Tín hiệu báo động từ Trung Quốc [Kỳ 3]: Áp lực lên hai đầu chuỗi cung ứng
Tín hiệu báo động từ Trung Quốc [Kỳ 3]: Áp lực lên hai đầu chuỗi cung ứng
Làn sóng hàng giá rẻ từ Trung Quốc đang cùng lúc gây sức ép lên hai đầu của chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng bằng hai cơ chế khác nhau. Ở một đầu, các nền công nghiệp phát triển mất dần nhà máy vì không cạnh tranh nổi về giá. Ở đầu kia, những nước sống bằng xuất khẩu khoáng sản đang mất nguồn thu khi Trung Quốc bớt mua nguyên liệu.
Trung Quốc có khả năng tác động tới cả thị trường tiêu thụ ở các nước phát triển, lẫn nguồn cung khoáng sản ở các nước nghèo hơn. Ảnh minh hoạ.
|
Tháng 3/2026, Ủy ban châu Âu công bố dự thảo Đạo luật Tăng tốc Công nghiệp, dựng một hệ thống rào cản phi thuế quan chặt chưa từng có cho chuỗi cung ứng xanh. Cùng tháng, Mỹ khởi động 16 cuộc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại 1974 nhắm vào tình trạng dư thừa công suất công nghiệp tại 16 quốc gia.
Hai động thái gần như đồng thời của hai nền kinh tế lớn nhất phương Tây cho thấy dòng hàng công nghệ từ Trung Quốc đã vượt ngưỡng mà hệ thống thương mại toàn cầu chịu được. Sức ép từ các nhà máy đại lục không còn nằm trong phạm vi một tranh chấp thương mại, mà thậm chí đang vẽ lại bản đồ sản xuất công nghiệp lẫn bản đồ cung ứng khoáng sản của thế giới.
Ở đầu tiêu thụ, hàng công nghệ giá rẻ đang bào mòn nền công nghiệp phương Tây, và không nơi nào thấy rõ hiện tượng này bằng nước Đức. Quan hệ bổ trợ kéo dài hai thập niên giữa Berlin và Bắc Kinh, nơi Đức bán máy móc cùng xe hạng sang để đổi lấy linh kiện giá rẻ, đã chuyển sang thế cạnh tranh một mất một còn.
Ngành xe Đức mất chỗ đứng ở Trung Quốc
Kim ngạch xuất khẩu xe nguyên chiếc của Đức sang Trung Quốc giảm 66% trong giai đoạn 2022 đến 2025. Để bám trụ cuộc chiến giá xe điện tại đại lục, Volkswagen, BMW và Mercedes-Benz phải dời trung tâm nghiên cứu phát triển cùng dây chuyền lắp ráp sang chính thị trường đó. Lợi nhuận kiếm được ở Trung Quốc từ đó phải tái đầu tư tại chỗ, thay vì chảy về nuôi việc làm và phòng thí nghiệm trong nước.
Hệ quả là cuộc cắt giảm nhân sự lớn nhất lịch sử ngành xe Đức. Volkswagen công bố kế hoạch cắt tới 100,000 việc làm trên toàn cầu và cân nhắc đóng cửa 4 nhà máy tại Đức, khi tỷ lệ khai thác công suất ở châu Âu rơi xuống 55%, thấp hơn nhiều so với điểm hòa vốn 80%. BMW cắt 8,000 việc làm, Porsche tinh giản 9,000 vị trí. Riêng nửa đầu năm 2026, ngành xe Đức mất 42,300 nhân sự so với cùng kỳ, theo Văn phòng Thống kê Liên bang.
Sức ép lan xuống tận lớp doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhóm “nhà vô địch ẩn danh” làm nên xương sống công nghiệp Đức. Cán cân thương mại hàng tư liệu sản xuất của Đức với Trung Quốc chuyển từ thặng dư 750 triệu Euro giữa năm 2024 sang thâm hụt khoảng 500 triệu Euro năm 2025. Nhờ chương trình hỗ trợ “10,000 Tiểu Khổng Lồ”, doanh nghiệp Trung Quốc nay nắm 1/3 sản lượng máy móc toàn cầu, và ngành cơ khí cùng kỹ thuật điện Đức mất hơn 10,000 việc làm mỗi tháng tính đến cuối năm 2025. Tính chung cả nền công nghiệp, riêng năm 2025 nước Đức cắt 124,000 chỗ làm.

Tất nhiên Đức cũng không thể đổ hết trách nhiệm lên đầu Trung Quốc. Bloomberg lượng hóa phần GDP hụt đi của Đức thành ba nguồn: 40% do mất thị trường xuất khẩu, 40% do chi phí năng lượng, 20% còn lại do lực cầu trong nước yếu và gánh nặng thủ tục hành chính.
Giá điện và khí đốt công nghiệp tại Đức năm 2026 vẫn cao gấp 3- 4 lần Mỹ và Trung Quốc, di chứng của việc mất nguồn khí giá rẻ từ Nga. Cú sốc Trung Quốc vì thế là chất xúc tác đẩy nhanh sự sụp đổ của một mô hình vốn đã tích tụ sẵn mâu thuẫn bên trong. Mất năng lực cạnh tranh, châu Âu buộc phải dựng hàng rào phòng vệ.
Châu Âu đổi từ đánh thuế sang ép nội địa hóa
Ngày 30/10/2024, Ủy ban châu Âu áp thuế chống trợ cấp có thời hạn 5 năm lên xe điện chạy pin nhập từ Trung Quốc, cộng thêm vào mức thuế nhập khẩu cơ sở 10%: BYD chịu 17%, Geely 18.8%, SAIC và các hãng không hợp tác chịu 35.3%. Công cụ này nhanh chóng bị vô hiệu một phần. Biên lợi nhuận tại châu Âu đủ dày để các hãng đại lục nuốt trọn khoản thuế mà vẫn giữ giá cạnh tranh, và họ lập tức đẩy sang dòng xe lai sạc điện (hybrid) chưa bị áp thuế: Riêng quý 1/2026, lượng xe lai sạc điện xuất sang châu Âu tăng 152% so với cùng kỳ.
Tháng 1/2026, EU thay đổi chiến thuật, chuyển sang cơ chế cam kết giá tối thiểu, và tháng 3/2026 công bố Đạo luật Tăng tốc Công nghiệp. Muốn nhận trợ cấp mua xe của Chính phủ hoặc dự thầu mua sắm công, xe điện phải lắp ráp hoàn thiện tại EU và đạt tỷ lệ nội địa hóa linh kiện phi pin tối thiểu 70%.
Riêng với pin, đạo luật đặt lộ trình leo thang: Ban đầu ít nhất 3 thành phần cốt lõi, gồm cả tế bào pin, phải sản xuất tại EU; sau 3 năm phải thêm hai thành phần nữa, trong đó có vật liệu điện cực và hệ thống quản lý pin. Các dự án đầu tư trên 100 triệu Euro đến từ quốc gia nắm hơn 40% công suất toàn cầu trong lĩnh vực chiến lược, tức nhắm thẳng vào Trung Quốc, phải liên doanh với đối tác châu Âu giữ quyền chi phối, chuyển giao công nghệ và cam kết tạo việc làm tại chỗ.
Điểm yếu của biện pháp này nằm ở chỗ các nước thành viên chưa có chuẩn đầu tư chung. Dòng vốn xe điện Trung Quốc lập tức dồn về nơi luật lỏng nhất: Riêng Hungary hút 47% tổng vốn đầu tư xe điện của Trung Quốc vào EU năm 2023. Các nhà máy kiểu này giữ tỷ lệ nội địa hóa dưới 40%, nghĩa là hơn 60% giá trị sản phẩm vẫn nhập từ đại lục.
Tháng 4/2026, tổ chức China Labor Watch công bố báo cáo về nhà máy BYD tại Szeged, ghi nhận ca làm 14 giờ mỗi ngày và việc dùng lao động di cư Trung Quốc để lách luật lao động Hungary. Vốn ngoại không kèm điều kiện chặt chẽ sẽ chỉ đẻ ra xưởng vặn ốc vít, không mang lại công nghệ. Chính vì các công cụ hiện có đều có lỗ hổng, giới kinh tế châu Âu bắt đầu đòi một cơ chế kiểu Mục 301 của riêng EU, cho phép Brussels đánh thuế trừng phạt cả một ngành mà không phải qua thủ tục kiện tụng kéo dài.
Nhưng trong lúc châu Âu giành giật từng phần trăm nội địa hóa, đầu bên kia của chuỗi lại không có gì để mặc cả.
Nhu cầu khoáng sản từ Trung Quốc đang cạn dần
Bắc Kinh dừng bơm vốn cho bất động sản thâm dụng thép và dồn tiền sang công nghệ cao, kéo theo nhu cầu quặng sắt, than và đồng sụt mạnh. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng của Trung Quốc chậm lại còn 4.4% trong năm 2026, đủ để ép giá hàng hóa cơ bản trên toàn cầu. Mức thiệt hại của từng nước tỷ lệ thuận với mức lệ thuộc vào một khách hàng duy nhất.
Mông Cổ bán 72% kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc, gần như toàn bộ than và quặng đồng khai thác được. Cộng hòa Congo phụ thuộc 46%, Cộng hòa Dân chủ Congo 43% với cobalt và đồng, Angola 37.8% với dầu thô, Chile 31.8% với đồng. Ngay cả Australia với tỷ lệ phụ thuộc 29.3% và Brazil với 27.1% cũng sẽ lãnh đủ: Khi các lò thép Trung Quốc giảm 2.7% sản lượng trong tháng 5/2026, giá quặng sắt giao ngay quay đầu ngay lập tức, kéo doanh thu của những tập đoàn khai khoáng lớn như Vale đi xuống.

Kịch bản này từng diễn ra trong giai đoạn 2012 đến 2015, khi đầu tư tài sản cố định của Trung Quốc giảm tốc, giá đồng mất hơn 40%, dầu sụt hơn 60% và quặng sắt lao dốc 70%. Cú rơi đó kéo tăng trưởng của vùng Hạ Sahara từ 5.3% năm 2013 xuống 1.3% năm 2016, mức thấp nhất trong hơn hai thập niên. Điều khác biệt lần này là các nước xuất khẩu khoáng sản đó bước vào chu kỳ giảm giá với một khoản nợ đã phình to sẵn.
Chủ nợ Trung Quốc chuyển sang vai trò cứu nguy
Phần lớn khoản nợ đến từ “mô hình Angola”, cách cho vay lấy tài nguyên làm thế chấp để đổi lấy hạ tầng. Các khoản vay này định danh bằng đồng USD, chịu lãi suất thương mại thả nổi thường cao hơn lãi suất tham chiếu quốc tế 250 điểm cơ bản, không có phần ưu đãi như vốn của Ngân hàng Thế giới. Quan trọng hơn, tiền bán dầu và khoáng sản sang Trung Quốc phải chảy thẳng vào tài khoản ký quỹ mở tại ngân hàng quốc doanh Trung Quốc; bên cho vay tự trích nợ trước, phần thừa mới về tới túi tiền của nước đi vay.
Riêng nợ với các chủ thể Trung Quốc hiện bằng 29% GDP của Angola. Tại Kenya, nợ công chạm mức kỷ lục 99 tỷ USD, tương đương 70% GDP, còn chi phí trả nợ nuốt 69% tổng thu ngân sách; chương trình hỗ trợ 3.6 tỷ USD của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hết hạn từ tháng 4/2025 mà không gia hạn được. Ethiopia đã vỡ nợ chính thức và đàm phán tái cơ cấu vẫn giậm chân, do các chủ nợ phương Tây và ngân hàng chính sách Trung Quốc chưa thống nhất được nguyên tắc chia sẻ tổn thất.
Trước nguy cơ đổ vỡ dây chuyền, Bắc Kinh ngừng cấp vốn cho dự án hạ tầng mới và chuyển sang làm người cho vay cuối cùng, bơm hàng chục tỷ USD thông qua chương trình hoán đổi tiền tệ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) để Pakistan, Mông Cổ và Argentina đảo nợ.
Khoản cứu trợ ấy mua thêm thời gian và kéo dài thế lệ thuộc, còn khoản nợ vẫn nằm nguyên đó. Nguồn lực để cứu cũng có hạn: dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã lùi từ đỉnh gần 4 ngàn tỷ USD năm 2014 xuống quanh mốc 3 ngàn tỷ USD, buộc Bắc Kinh phải chọn lọc hơn khi quyết định cứu ai và bỏ mặc ai.
Một nền kinh tế vừa gánh công suất thừa trong nước, vừa gia hạn cho các con nợ ngoài nước, còn rất ít dư địa để tự chữa cho chính mình. Đó là nội dung của bài tiếp theo: Kỳ 4 – Kịch bản thập niên mất mát.
Đức Quyền
FILI
– 08:30 01/09/2026
Các Sàn forex Uy Tín:
Icmarkets
Exness
Source link
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.