Bóng đen đeo bám Nhật Bản từ Trân Châu Cảng 1941 đến Hormuz 2026

Bóng đen đeo bám Nhật Bản từ Trân Châu Cảng 1941 đến Hormuz 2026

Hai lần trong 85 năm, Nhật Bản bị dồn vào thế khó bởi cùng nguyên nhân: nền kinh tế lớn nhưng không có tài nguyên trong lòng đất. Lựa chọn năm 1941 là chiến tranh, giải pháp năm 2026 là 96.5 tỷ USD dự trữ ngoại hối được tung ra giữ giá đồng Yên. Cái bẫy không đổi, chỉ có hình thức trả giá là khác.




Nhật Bản là cường quốc kinh tế nhưng nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, hầu hết năng lượng và khoáng sản phải nhập khẩu. Ảnh minh họa.

85 năm, một điểm yếu không đổi

Ngày 02/08/2026, khi được hỏi về việc Mỹ tham gia đợt can thiệp giải cứu đồng Yên, Tổng thống Donald Trump nói: “Chúng tôi có quan hệ tốt với Nhật Bản. Chúng tôi rất mạnh về tài chính, còn Nhật Bản thì có đồng Yên đang yếu đi, và họ muốn được giúp một chút, chúng tôi thì luôn sẵn lòng vì Nhật Bản. Nhật Bản đối xử với chúng tôi rất tốt, tất nhiên là trừ vụ Trân Châu Cảng”.

Trước đó, ngày 19/03, khi phóng viên hỏi vì sao Mỹ không báo trước cho Nhật Bản và các đồng minh về quyết định không kích Iran, ông Trump trả lời trước mặt nữ Thủ tướng Nhật Bản: “Chúng tôi đánh rất mạnh và không báo cho ai cả vì chúng tôi muốn tạo bất ngờ. Ai hiểu về bất ngờ hơn Nhật Bản? Này, sao các vị không báo trước cho tôi về Trân Châu Cảng?”

Hai câu đùa cách nhau 4 tháng vô tình nối lại một sợi dây liên kết mà có lẽ chính ông Trump cũng không nghĩ tới. Đó là một nền kinh tế công nghiệp lớn được xây dựng trên một quần đảo gần như không có khoáng sản gì trong lòng đất. Năm 1939, chỉ 6% nguồn cung dầu của Nhật Bản là sản xuất trong nước, phần còn lại nhập khẩu, trong đó khoảng 80% đến từ Mỹ. Năm 2026, tỷ lệ phụ thuộc nhập khẩu dầu thô ở mức 97-99%, còn khí hóa lỏng gần như tuyệt đối 100%.




Tỷ lệ tự cung cấp năng lượng của Nhật Bản giảm mạnh sau thảm họa điện hạt nhân Fukushima năm 2011.

Đường đến Trân Châu Cảng 1941

Ngày 25/07/1941, đáp lại việc quân đội Nhật chiếm đóng toàn bộ miền Nam Đông Dương, Mỹ tuyên bố phong tỏa tài sản Nhật Bản tại Mỹ và hạn chế xuất khẩu dầu. Anh và Hà Lan cũng nhanh chóng hành động tương tự. Vậy là Nhật Bản mất 94% nguồn cung dầu thô quốc tế.

Động thái này của phe Đồng Minh hiệu quả vì nó nhắm vào khâu thanh toán chứ không phải khâu vận chuyển. Tài sản bị đóng băng đồng nghĩa Nhật Bản không còn phương tiện chi trả cho dầu do Anh và Mỹ kiểm soát, trừ khi xin được giấy phép đặc biệt. Một quốc gia vẫn còn tàu, còn cảng, còn khách hàng, nhưng không còn khả năng mua.

Ngoài dầu thô, Nhật Bản khi đó nhập 100% cao su, 100% sắt phế liệu và trên 80% quặng sắt. Mỹ vốn là nguồn cung sắt phế liệu chính và đã cấm vận mặt hàng này từ tháng 9/1940, tức gần một năm trước khi khóa van dầu.

Giới quân sự Nhật tính lượng dầu dự trữ chỉ đủ tối đa 18-24 tháng, còn Đô đốc Yamamoto Isoroku nhận được cảnh báo rằng hạm đội của ông sẽ hết nhiên liệu trong vòng một năm.

Sức ép tài khóa cũng đã ở mức không thể duy trì. Chi tiêu quân sự chiếm 29% ngân sách Chính phủ năm 1931, tăng lên 66% năm 1940 và gần 80% năm 1941, không còn chỗ cho hàng tiêu dùng, khiến tiền lương và mức sống trong nước sụt giảm.

Trong khi đó, nguồn lực của Mỹ vượt trội hơn Nhật Bản về mọi mặt với thép 20 lần, than 10 lần, máy bay 5 lần, và dầu mỏ hơn 100 lần.

Năm 2026, điểm nghẽn Hormuz siết cổ đồng Yên

Chiến tranh Iran bùng nổ ngày 28/02/2026 và eo biển Hormuz bị bóp nghẹt. Với Nhật Bản, Hormuz là điểm nghẽn sinh tử, Trung Đông chiếm 94-96% nguồn dầu thô nhập khẩu, hơn 90% lượng dầu đó phải đi qua Hormuz, cùng khoảng 11% lượng khí hóa lỏng nhập từ Oman, Qatar và UAE.

Giá phản ứng gần như tức thì, dầu Brent từ 72 USD/thùng trước khi chiến sự leo thang đã tăng 65% ngay trong tháng 3/2026 để chạm đỉnh 126 USD, và có lúc vượt 130 USD trong tháng 4. Giá khí hóa lỏng giao ngay chuẩn châu Á tăng gần gấp đôi.

Tokyo xoay trục nguồn cung rất nhanh nhưng phải trả giá bằng cước vận tải. Tháng 7/2026, dầu thô Mỹ chiếm 36.3% tổng kim ngạch nhập khẩu, mức cao kỷ lục và gấp 9 lần cùng kỳ năm trước, kéo thị phần Trung Đông xuống còn 59.3%. Quãng đường vận chuyển dài gấp đôi cộng phí bảo hiểm chiến sự đẩy đơn giá dầu nhập khẩu bình quân tăng 78%.

Kim ngạch nhập khẩu dầu thô tháng 7/2026 lập kỷ lục 1,400 tỷ Yên, tăng 87.8% so với cùng kỳ. Tổng nhập khẩu cả tháng đạt 12,146 tỷ Yên, cũng là mức cao nhất lịch sử, đẩy cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 634.5 tỷ Yên sau khi đã thâm hụt 406.9 tỷ Yên trong tháng 6.

 

Điều đáng nói là xuất khẩu của Nhật Bản không hề yếu. Kim ngạch xuất khẩu tháng 7 lập kỷ lục 11,512 tỷ Yên, tăng 23.2% nhờ nhu cầu bùng nổ về chip bán dẫn và thiết bị phục vụ trí tuệ nhân tạo. Nhưng hàng bán ra không đủ bù hóa đơn năng lượng, và cán cân lũy kế 12 tháng tính tới tháng 7 đã thâm hụt 2.1 ngàn tỷ Yên.

Từ thâm hụt hàng hóa tới áp lực tỷ giá chỉ là bước ngắn vì mọi chi phí mua dầu khí đều thanh toán bằng USD, nên nhập khẩu càng đắt thì lượng USD phải mua càng lớn, trong khi nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu về chậm hơn. Mất cân đối cung cầu ngoại tệ đẩy giá trị nội tệ trượt xuống 164 Yên đổi 1 USD, mức yếu nhất trong 40 năm.




Thâm hụt thương mại của Nhật Bản tăng mạnh trong những giai đoạn bất ổn địa chính trị và giá dầu tăng cao như xung đột Nga – Ukraine 2014 và 2022.

Nợ công trói tay ngân hàng trung ương

Công cụ chuẩn mực để chặn đà mất giá của đồng Yên là nâng lãi suất. Nhưng với nợ công vượt 260% GDP, mỗi bước nâng lãi suất đều làm chi phí trả lãi của chính phủ phình lên, nên Ngân hàng Trung ương Nhật Bản giữ lãi suất điều hành ở 1% trong khi lạm phát lõi dự báo cho năm tài khóa 2026 ở mức 2.5%.

Không sử dụng được công cụ lãi suất, Tokyo chuyển sang dùng dự trữ. Từ ngày 30/07 đến 26/08/2026, Bộ Tài chính Nhật Bản chi 96.5 tỷ USD mua vào đồng Yên, cao kỷ lục cho kỳ công bố theo tháng, trong đó có đợt phối hợp hiếm hoi với Mỹ vào hai ngày 30 và 31/07. Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc cũng căn thời điểm can thiệp mua won trùng với Nhật Bản để khuếch đại hiệu quả.

Nguồn USD cho các đợt can thiệp đến chủ yếu từ việc bán bớt trái phiếu Kho bạc Mỹ. Lượng trái phiếu Mỹ do Nhật Bản nắm giữ giảm từ đỉnh 1,239 tỷ USD hồi tháng 2/2026 xuống 1,143 tỷ USD vào tháng 5. Việc chủ nợ nước ngoài lớn nhất bán ra có góp phần đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ lên.

Kết quả của đợt can thiệp tỷ giá không duy trì được lâu. Tới cuối tháng 8, toàn bộ mức tăng của đồng Yên đã bốc hơi, vì các yếu tố nền tảng không thay đổi như chi phí mua năng lượng vẫn đắt, chênh lệch lãi suất vẫn rộng, và eo biển vẫn nghẽn.

Ngân sách bổ sung hơn 3,000 tỷ Yên được duyệt trong mùa hè 2026 để trợ giá điện, khí đốt và xăng dầu, giữ giá xăng quanh 170 Yên một lít. Khoản trợ giá này kìm được lạm phát tiêu dùng ở mức 1.8% tại Tokyo trong tháng 8, nhưng nó chỉ chuyển gánh nặng từ hộ gia đình sang ngân sách quốc gia.

Phần chi phí không được trợ giá thì dồn vào doanh nghiệp. Chỉ số giá sản xuất tăng 7.2% so với cùng kỳ trong tháng 7/2026, và theo Teikoku Databank, 556 doanh nghiệp đã phá sản trong nửa đầu năm vì không gánh nổi chi phí đầu vào, mức cao nhất kể từ khi số liệu này được thu thập năm 2018.

Điện hạt nhân lại được gọi tên

Năm 1941 Nhật Bản gần như không có phương tiện thanh toán quốc tế; năm 2026 Nhật Bản là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ. Nhưng cả hai lần, nghèo tài nguyên đều dẫn tới cùng một chỗ, chỉ khác lối thoát là một bên chọn vũ lực để giành lấy nguồn cung, một bên chọn bán tài sản để mua thời gian.

Điểm chung của hai lựa chọn là đều không xử lý trực tiếp nguyên nhân. Tấn công Trân Châu Cảng không tạo ra dầu, và 96.5 tỷ USD dự trữ cũng không mở lại eo biển Hormuz.

Năm tài khóa 2023, nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm 80.8% sản lượng điện của Nhật Bản, trong đó khí hóa lỏng 20.7%, còn điện hạt nhân chỉ còn 4.1% so với mức 30% trước thảm họa Fukushima năm 2011.

Hoạt động hồi sinh điện hạt nhân đang được đẩy nhanh. Tháng 2/2026, Nhật Bản tái khởi động tổ máy số 6 nhà máy Kashiwazaki-Kariwa, nâng số lò phản ứng vận hành lên 15 với tổng công suất 33 GW. Một tổ máy như vậy thay thế được khoảng 1.3 triệu tấn khí hóa lỏng nhập khẩu mỗi năm, tương đương 10% lượng khí Nhật Bản nhập từ vùng Vịnh năm 2025.

Kế hoạch năng lượng chiến lược đặt mục tiêu đưa điện hạt nhân lên 20% cơ cấu nguồn điện vào năm 2040, và gói chính sách công bố ngày 26/08/2026 tính tới việc thay thế 11 đến 14 lò phản ứng bằng thế hệ mới trong thập niên 2050.

Một nền kinh tế có thể tích lũy hàng ngàn tỷ USD dự trữ, giữ thặng dư đầu tư với thế giới và dẫn đầu về chip bán dẫn, nhưng chừng nào nguồn năng lượng còn nằm trên tàu của người khác, đi qua eo biển của người khác, thì mọi thành tựu ấy vẫn phụ thuộc vào một tuyến hàng hải mà Tokyo không kiểm soát.

Đức Quyền

FILI

– 09:00 01/09/2026


Các Sàn forex Uy Tín:

Icmarkets

Exness

Source link

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.