Sức chứa của một cái kho chung

Sức chứa của một cái kho chung

Trong số tháng 9 và tháng 10 của tạp chí Foreign Affairs có bài viết của Michael Froman với tiêu đề: “Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tiếp theo có thể được tạo ra ở Trung Quốc”. Ông Froman là Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại và từng là Đại diện Thương mại Mỹ giai đoạn 2013 – 2017, ông là người đã dành phần lớn sự nghiệp để mở rộng thương mại chứ không phải để cảnh báo về nó.

Luận điểm trung tâm của bài viết ngắn gọn như sau: Khả năng của thế giới trong việc hấp thụ phần dư thừa năng lực sản xuất của Trung Quốc đang tiến gần tới điểm gãy, và nếu điểm gãy ấy tới thì hậu quả có thể là một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Con số chính ông dùng làm nền tảng cho luận điểm của mình là thặng dư thương mại của Trung Quốc năm 2025, gần 1.2 nghìn tỷ USD, mức lớn nhất từng được ghi nhận, và tăng với tốc độ gấp ba lần tốc độ tăng của thương mại hàng hóa toàn cầu. Bảy tháng đầu năm 2026, thặng dư đã đạt 687.37 tỷ USD; riêng tháng 6/2026 lập kỷ lục theo tháng với 125.62 tỷ USD.




Michael Froman

Phần dư thừa đã đổi loại hàng

Cách hình dung quen thuộc về dư thừa năng lực Trung Quốc gắn với thép, xi măng, tấm pin mặt trời và những mặt hàng có biên lợi nhuận mỏng. Cấu trúc xuất khẩu năm nay không còn giống như vậy.

Tháng 7/2026, xuất khẩu của Trung Quốc đạt 397.85 tỷ USD, tăng 23.9% so với cùng kỳ. Bên trong con số đó, hàng công nghệ cao tăng 40.7%, giá trị xuất khẩu bán dẫn gần như tăng gấp đôi so với một năm trước, và nhóm bộ ba mới gồm xe điện, pin và pin mặt trời tăng 27.1%. Các ngành chế tạo truyền thống như may mặc và đồ nội thất tiếp tục co lại về tỷ trọng.

Sự dịch chuyển này làm thay đổi bản chất của vấn đề. Khi phần dư thừa nằm ở thép, nó cạnh tranh với các ngành đang suy giảm ở các nước nhập khẩu, và phản ứng thường giới hạn trong một vài ngành công nghiệp cũ. Khi phần dư thừa nằm ở bán dẫn, thiết bị mạng và xe điện, nó cạnh tranh với chính những ngành mà mọi chính phủ đều đang tuyên bố là tương lai của mình và đã cam kết ngân sách để xây dựng. Cùng một khối lượng hàng hóa, nhưng nó chạm vào một tập hợp lợi ích hoàn toàn khác, và ngưỡng chịu đựng chính trị ở đó thấp hơn nhiều.

Hàng đã đi đâu khi phương Tây đóng cửa

Dòng chảy vẫn không chậm lại dù thuế quan đã dựng lên ở nhiều nơi. Phần lớn mức tăng được hấp thụ ở Đông Nam Á, châu Phi và Nga, nơi hàng rào thuế thấp hơn và nhu cầu hạ tầng còn lớn.

Nhìn từ phía Trung Quốc, đây là bằng chứng cho thấy mô hình vẫn hoạt động và những dự báo về giới hạn hấp thụ là quá sớm. Nhưng nếu nhìn từ phía những nước tiếp nhận, bức tranh lại hoàn toàn khác: Một luồng hàng vốn được sản xuất cho thị trường Mỹ và châu Âu nay chuyển hướng sang các nền kinh tế nhỏ hơn nhiều, với sức mua nhỏ hơn nhiều và với hệ thống phòng vệ thương mại mỏng hơn nhiều.

Đó là lý do khiến lập luận của Froman không chỉ là một dự báo về Trung Quốc. Một cái kho chung có sức chứa hữu hạn thì phần hàng không vào được ngăn này sẽ dồn sang ngăn khác, và ngăn cuối cùng luôn là ngăn có ít khả năng từ chối nhất. Điểm gãy mà ông nói tới nhiều khả năng sẽ không xuất hiện ở Washington hay Brussels, nơi các công cụ phòng vệ đã sẵn sàng, mà ở những nơi vừa cần hàng giá rẻ vừa đang cố xây ngành công nghiệp của riêng mình.

Vì sao một nền kinh tế sản xuất nhiều hơn mức nó bán được

Dư thừa năng lực không phải một sai sót kỹ thuật mà là kết quả có thể dự đoán được của cách vốn trong nền kinh tế được phân bổ.

Ở một nền kinh tế nơi tăng trưởng của địa phương được đo bằng sản lượng công nghiệp và dự án mới, mỗi cấp chính quyền đều có lý do để mở thêm nhà máy trong cùng một ngành đang được ưu tiên, và không cấp nào có nhiệm vụ cộng lại tổng công suất trên cả nước. Nhà máy đã dựng lên thì chi phí đã chìm, nên ngay cả khi giá bán rơi xuống dưới giá thành đầy đủ, việc tiếp tục chạy máy vẫn hợp lý hơn việc dừng lại. Từ đó xuất hiện một trạng thái mà mỗi bên đều hành động đúng theo động cơ của mình và tổng thể thì dư thừa.

Đặc điểm này giải thích vì sao chu kỳ dư thừa năng lực dai dẳng hơn nhiều so với một chu kỳ hàng hóa thông thường. Trong một chu kỳ bình thường, giá thấp làm doanh nghiệp thua lỗ rút lui, công suất giảm, giá hồi phục. Trong cấu trúc hiện tại, phần thua lỗ được hấp thụ bởi hệ thống tín dụng và ngân sách địa phương thay vì buộc nhà máy phải đóng cửa, nên cơ chế tự điều chỉnh bị vô hiệu hóa. Cái van duy nhất còn lại là xuất khẩu, và đó là lý do thặng dư thương mại tăng ngay cả trong những năm nhu cầu nội địa yếu.

Hai con số lớn ẩn sau một con số nhỏ

Việt Nam nằm đúng trong nhóm đó, và số liệu tám tháng đầu năm 2026 cho thấy điều này rõ hơn bất kỳ mô tả nào. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770.14 tỷ USD, tăng 28.7% so với cùng kỳ, mức cao nhất từ trước tới nay. Cán cân chung là nhập siêu 20.46 tỷ USD, một con số nhỏ và dễ chịu khi đặt cạnh quy mô kim ngạch. Nhưng riêng với Trung Quốc, Việt Nam nhập siêu 107.7 tỷ USD, tăng 41.7% so với cùng kỳ, với kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này đạt 161.9 tỷ USD.

Phép trừ cho ra một con số ít được nhắc tới: Để cán cân chung dừng ở mức âm 20.46 tỷ, Việt Nam phải tạo ra thặng dư khoảng 87 tỷ USD với toàn bộ phần còn lại của thế giới. Cán cân thương mại gọn gàng của Việt Nam không phải kết quả của sự cân bằng, mà là kết quả của hai dòng chảy rất lớn chạy ngược chiều nhau và triệt tiêu gần hết.

Bất kỳ điều gì làm suy yếu vế thứ hai, dù là một đợt thuế quan mới ở thị trường xuất khẩu chính hay một chu kỳ nhu cầu đi xuống, đều sẽ để lộ ra vế thứ nhất ở nguyên kích thước của nó. Mức tăng 41.7% trong một năm cũng đáng được xem xét. Đó là tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của tổng kim ngạch, nghĩa là tỷ trọng Trung Quốc trong rổ nhập khẩu đang lớn lên chứ không co lại, giữa lúc chủ đề nguồn gốc xuất xứ ngày càng nhạy cảm trong các cuộc đàm phán với thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

Sự bất đối xứng của các hàng rào

Một chi tiết dễ bị bỏ qua là hàng rào thương mại không được dựng lên cùng lúc và cùng độ cao trên khắp thế giới. Các nền kinh tế lớn có sẵn bộ máy điều tra chống bán phá giá, có luật sư thương mại, có dữ liệu ngành và có thời gian. Các nền kinh tế nhỏ hơn thường không có đủ ba thứ đầu tiên, nên khoảng thời gian từ lúc một luồng hàng chuyển hướng tới lúc có biện pháp đáp ứng ở đó dài hơn nhiều lần. Trong khoảng trống thời gian ấy, cấu trúc ngành của nước tiếp nhận đã kịp thay đổi, và một khi các nhà sản xuất trong nước đã rời khỏi thị trường thì biện pháp phòng vệ ban hành sau đó không đưa họ trở lại được.

Giá rẻ cũng là một hình thức chuyển giao

Có một cách hiểu khác về toàn bộ hiện tượng này. Nếu Trung Quốc sản xuất nhiều hơn mức thế giới cần và bán ra với giá thấp hơn chi phí thực, thì bên chịu thiệt là người bỏ vốn ở Trung Quốc, còn bên hưởng lợi là người mua ở khắp nơi. Tấm pin mặt trời rẻ đi đã làm cho điện tái tạo trở nên khả thi ở những nước mà cách đây mười năm điều đó nằm ngoài tầm với. Pin rẻ đi đã kéo giá xe điện xuống. Với một quốc gia đang cần lắp đặt hạ tầng năng lượng trong một thập niên tới, dòng hàng giá thấp này là một khoản trợ giá mà nước ngoài trả hộ.

Vấn đề của cách đọc ấy nằm ở chiều thời gian chứ không nằm ở logic. Giá thấp là một khoản chuyển giao có lợi nếu nó tồn tại song song với năng lực sản xuất trong nước, nhưng nó sẽ trở thành một khoản chi phí nếu nó tồn tại đủ lâu để năng lực ấy không kịp hình thành. Nước nhập khẩu hưởng lợi trong 10 năm và mất khả năng lựa chọn trong 30 năm tiếp theo, khi giá đã lên lại và không còn nhà sản xuất nội địa nào để thay thế. Cái được và cái mất đều có thật, điều khiến chúng khó so sánh là chúng rơi vào hai khoảng thời gian khác nhau và vào hai nhóm người khác nhau.

Việc mà một nền kinh tế mở buộc phải làm sớm

Từ góc nhìn điều hành, con số 107.7 tỷ USD không phải một vấn đề cần sửa mà là một cấu trúc cần được quản lý một cách có ý thức. Phần lớn hàng nhập từ Trung Quốc là nguyên liệu, linh kiện và thiết bị đi thẳng vào các nhà máy xuất khẩu đặt tại Việt Nam, nên siết nó lại đồng nghĩa với việc siết chính năng lực xuất khẩu. Câu hỏi thực tế không phải nhập bao nhiêu mà là tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước trên mỗi USD nhập khẩu ấy đang đi lên hay đi xuống, và câu trả lời cho câu hỏi đó quyết định Việt Nam là một mắt xích hay là một trạm trung chuyển.

Froman viết bài của mình để cảnh báo Trung Quốc rằng mô hình tăng trưởng hiện tại đang tiến tới giới hạn của chính nó. Nhưng phần lớn những nước sẽ cảm nhận giới hạn ấy trước tiên lại không có ghế trong cuộc thảo luận đó.

LH

FILI

– 08:39 11/09/2026


Các Sàn forex Uy Tín:

Icmarkets

Exness

Source link

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.