Sau khi bong bóng AI vỡ

Sau khi bong bóng AI vỡ

Khi có quá nhiều khoản đầu tư cùng lúc đổ vào các dự án công nghệ mới đang phát triển nhanh chóng, điều gì sẽ xảy ra nếu dòng tiền và lợi nhuận của các công ty này, những doanh nghiệp xây dựng trung tâm dữ liệu cũng như của các công ty AI thuê hạ tầng đó (hai nhóm thường chồng chéo nhau) lại không đạt như kỳ vọng? Sự thất vọng này có ý nghĩa gì đối với các thị trường tài chính? Liệu một cuộc khủng hoảng có đang chực chờ bùng nổ?

AI đang chi phối cả đầu cơ và nền kinh tế thực

Trong nhiều tháng thâm chí là nhiều năm trở lại đây, AI đã được kỳ vọng rất lớn từ mọi người, và điều này cũng thúc đẩy hoạt động đầu cơ trong hiện tại. Sự bùng nổ của chỉ số chứng khoán S&P 500 phần lớn đến từ các dự án liên quan đến AI. Các dự án liên quan đến AI đang góp phần thúc đẩy đầu tư vào các trung tâm dữ liệu, qua đó gây thêm áp lực lên lãi suất tại Mỹ. Các khoản vay phục vụ hoạt động xây dựng phải cạnh tranh nguồn tín dụng với chính phủ liên bang, vốn thường xuyên thâm hụt ngân sách.

Khi có quá nhiều khoản đầu tư cùng lúc đổ vào các dự án công nghệ mới đang phát triển nhanh chóng, điều gì sẽ xảy ra nếu dòng tiền và lợi nhuận của các công ty này, những doanh nghiệp xây dựng trung tâm dữ liệu cũng như của các công ty AI thuê hạ tầng đó (hai nhóm thường chồng chéo nhau) lại không đạt như kỳ vọng? Sự thất vọng này có ý nghĩa gì đối với các thị trường tài chính? Liệu một cuộc khủng hoảng có đang chực chờ bùng nổ?

Những “mũi kim” làm nổ bong bóng

Kịch bản này có thể xảy ra vì rất nhiều lý do. Đầu tiên, lợi ích về năng suất từ AI có thể đang bị thổi phồng quá mức. Khi đó, các doanh nghiệp đang cân nhắc sử dụng những mô hình tiên tiến nhất có thể sẽ phải cắt giảm lượng token (đơn vị dữ liệu cơ bản được xử lý bởi các mô hình này) sử dụng. Thứ hai là sự sẵn có của các mô hình mã nguồn mở, cho phép người dùng tùy chỉnh các thông số của mô hình theo nhu cầu, giúp họ xây dựng các mô hình ngôn ngữ nhỏ chạy trên hạ tầng riêng, thậm chí là trên những chiếc laptop giống như chiếc tôi đang dùng để viết bài này. Dù theo cách nào, nguồn thu mà các nhà đầu tư vào trung tâm dữ liệu nhận được cũng sẽ không đạt như kỳ vọng.

Nguồn: Depositphotos

Nhưng tác động lên thị trường cổ phiếu không quá lớn

Tác động trực tiếp và dễ thấy nhất sẽ là một cú sụt giảm mạnh trong mức giá cổ phiếu vốn đang ở trên cao của nhóm “Magnificent 7”, bảy doanh nghiệp công nghệ và các doanh nghiệp liên quan đến công nghệ có vốn hóa siêu lớn, vốn là nhân tố chính khiến cho chỉ số S&P 500 đi lên. Nhưng các đợt điều chỉnh của thị trường chứng khoán không nhất thiết sẽ dẫn đến khủng hoảng, hay thậm chí là suy thoái. Nếu giá cổ phiếu Meta giảm, Mark Zuckerberg sẽ chỉ mua ít lâu đài hơn ở Ireland. Sẽ có sự chững lại trong tiêu dùng và chi tiêu đầu tư. Các quỹ đầu tư chuyên về các dự án liên quan đến AI, như Situational Awareness, sẽ phải chịu thiệt hại. Nhưng một cuộc khủng hoảng tài chính chỉ xảy ra nếu các ngân hàng, công ty bảo hiểm và các nhà đầu tư tổ chức chủ đạo khác cũng bị cuốn vào. Hiện tại, có rất ít bằng chứng cho thấy họ đang nắm giữ quá nhiều rủi ro từ cổ phiếu AI.

Câu chuyện thật sự nằm ở thị trường nợ

Những diễn biến trên thị trường nợ mới là điều đáng lo ngại hơn. Khi chi phí xây dựng các trung tâm dữ liệu vượt quá dòng tiền tự do của các đơn vị tài trợ và khi nguồn thu từ những khách thuê tiềm năng vẫn còn là một triển vọng xa vời, phần lớn khoản đầu tư này đang được tài trợ bằng các khoản vay từ các quỹ tín dụng tư nhân (các tổ chức phi ngân hàng thực hiện các khoản vay được thương lượng riêng). Nếu nhu cầu đối với dịch vụ trung tâm dữ liệu thấp hơn kỳ vọng, các khoản vay này sẽ trở thành nợ xấu (một cách nói lịch sự để chỉ việc bên vay sẽ vỡ nợ).

Câu hỏi tiếp theo là ai đang đầu tư vào các quỹ tín dụng tư nhân này. Hình ảnh phổ biến thường là các văn phòng quản lý tài sản gia đình và những cá nhân có giá trị tài sản , những đối tượng vốn quen đầu tư mạo hiểm và có khả năng chịu đựng rủi ro mất vốn. Nhưng thực tế là phần lớn nguồn tín dụng tư nhân lại được cung cấp bởi các nhà đầu tư tổ chức: các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm và tôi xin phép được nói thẳng là có bao gồm cả các quỹ tài trợ của các trường đại học.

Bài học từ khủng hoảng 2007-2008

Các quỹ tín dụng tư nhân đã và đang thực hiện các bước để tiếp cận nguồn tiền của các tổ chức này bằng cách mua lại các công ty bảo hiểm. Từ đó, có thể đẩy mạnh danh mục tài sản của các công ty này bằng các khoản vay. Điều này dẫn đến khả năng về một cuộc khủng hoảng trong ngành bảo hiểm với nhiều kịch bản diễn tiến khác nhau.

Các công ty mẹ sở hữu quỹ tín dụng tư nhân có thể tái cấp vốn cho các công ty bảo hiểm thuộc quyền quản lý với điều kiện họ còn đủ tiền. Ngoài ra, các quỹ bảo lãnh của tiểu bang, được đóng góp bởi các công ty bảo hiểm khỏe mạnh, có thể tài trợ cho việc tái cấp vốn này, mặc dù sẽ chẳng còn công ty nào khỏe mạnh nếu toàn bộ ngành sụp đổ. Cuối cùng, chính phủ liên bang có thể sẽ can thiệp bằng một gói giải cứu như đã từng làm với tập đoàn American International Group (AIG) vào năm 2008.

Bên cạnh việc vay từ các quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm, các công ty tín dụng tư nhân còn vay từ các ngân hàng thương mại, sử dụng danh mục các khoản vay của mình làm tài sản đảm bảo. Qua đó, gia tăng đòn bẩy cho các cam kết của họ và tối đa hoá lợi nhuận. Ngay cả khi các ngân hàng không cho vay hay đầu tư trực tiếp vào các công ty AI và trung tâm dữ liệu, họ vẫn có thể phải gánh chịu rủi ro. Chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng các cơ quan quản lý đang giám sát chặt chẽ vấn đề này.

Cuối cùng, các quỹ tín dụng tư nhân vốn được xây dựng theo mô hình mua và nắm giữ (buy-and-hold) giờ đây đang gia tăng việc chứng khoán hóa các khoản vay của họ. Họ đóng gói các khoản vay này thông qua các công cụ có mục đích đặc biệt (SPV) để phát hành trái phiếu được bảo đảm bằng các dòng tiền liên quan. Trong đó, các trái phiếu này được chia thành các cấp độ rủi ro xác định thứ tự ưu tiên thanh toán gốc và lãi theo thứ tự ưu tiên thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Cái gọi là trái phiếu có rủi ro trung bình (mezzanine tranche) sau đó được bán lại cho các nhà quản lý tài sản khác.

Để đánh giá mức độ cận kề của rủi ro khủng hoảng, chúng ta cần biết nhiều hơn về mức độ rủi ro của trái phiếu có rủi ro trung bình này và ai đang nắm giữ nó. Nhưng thực tế chúng ta không biết. Nếu điều này làm bạn liên tưởng đến vai trò của chứng khoán hóa, các công cụ SPV, việc phân tầng rủi ro và tính thiếu minh bạch trong cuộc khủng hoảng thế chấp nhà ở dưới chuẩn năm 2007–2008 thì bạn không phải là người duy nhất cảm thấy như vậy.

Giống như cách các thị trường nợ đã góp phần gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu suýt sụp đổ sau cuộc khủng hoảng đó, sự tác động của các thị trường nợ đối với AI hiện nay sẽ chi phối những diễn biến sắp tới. Vấn đề là chúng ta chỉ có rất ít thông tin công khai về các thị trường này và các cơ quan quản lý cũng không làm cho việc tiếp cận thông tin đó trở nên dễ dàng hơn.

Giới thiệu về tác giả Barry Eichengreen

Barry Eichengreen là Giáo sư Kinh tế và Khoa học Chính trị tại Đại học California, Berkeley, đồng thời là cựu cố vấn chính sách cấp cao tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, bao gồm In Defense of Public Debt (Oxford University Press, 2021) và Money Beyond Borders: Global Currencies from Croesus to Crypto (Princeton University Press, 2026).

Nguồn: Wikipedia

* Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả Barry Eichengreen

Phòng Tư Vấn Vietstock

FILI

– 13:00 19/09/2026


Các Sàn forex Uy Tín:

Icmarkets

Exness

Source link

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.