Lý do không gì soán ngôi được dầu mỏ trong mọi cuộc chơi quyền lực

Lý do không gì soán ngôi được dầu mỏ trong mọi cuộc chơi quyền lực

Nền kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dòng tiền mã hóa tạo ra ảo giác rằng quyền lực toàn cầu đã dịch chuyển vào không gian ảo. Nhưng khi eo biển Hormuz bị phong tỏa đầu năm 2026, cả thế giới nhận ra rằng dầu mỏ không phải là tàn tích của thế kỷ trước mà vẫn là thứ quyền lực duy nhất có thể gây ra sự sụp đổ tức thì của bất kỳ nền kinh tế nào khi dòng chảy bị cắt đứt.




Ảnh: Unrevealed Files

Tháng 3/2026, Bộ Tài chính Mỹ ban hành hai văn bản hiếm có trong lịch sử ngoại giao với nội dung đình chỉ tạm thời toàn bộ các lệnh trừng phạt đối với dầu thô của Nga và Iran. Hai quốc gia mà Washington đang đồng thời kiềm chế bằng vũ lực bỗng được phép bán dầu tự do ra thị trường quốc tế.

Nguyên nhân là eo biển Hormuz bị phong tỏa, giá dầu thô Brent vượt 120 USD/thùng, và không có thuật toán nào thay thế được 15 triệu thùng dầu thiếu hụt mỗi ngày.

Dầu mỏ một lần nữa chứng minh khả năng vượt lên trên mọi toan tính địa chính trị. Căn nguyên vấn đề xuất phát từ cơ chế vật lý bất biến: Dầu mỏ là nhiên liệu tiêu hao tức thì, không thể in ra như tiền giấy hay tải về như những dòng mã lập trình.

Bài học qua hai lần đại chiến

Năm 1911, Winston Churchill nhậm chức Bộ trưởng Hải quân Anh trong bối cảnh than đá vẫn là nguồn năng lượng thống trị hạm đội hoàng gia. Than đá dồi dào tại các mỏ nội địa ở Lancashire, Yorkshire và South Wales, đồng nghĩa với sự tự chủ tuyệt đối.

Tuy nhiên, để đối phó với chương trình đóng tàu chiến của Đức, Churchill thúc đẩy một quyết định mang tính lịch sử: Chuyển toàn bộ hạm đội sang chạy bằng dầu mỏ, chấp nhận từ bỏ tự chủ năng lượng hoàn toàn để đổi lấy ưu thế quân sự.

Đổi lại, tàu lớp Queen Elizabeth đạt tốc độ 25 hải lý/giờ, vượt xa mọi đối thủ chạy bằng than. Mật độ năng lượng của dầu gấp đôi than – ít người hầu lò, ít khói, nhiều linh hoạt chiến thuật hơn. Tháng 7/1914, Chính phủ Anh chi 2 triệu bảng mua 51% cổ phần Công ty Dầu mỏ Anh–Ba Tư (APOC, tiền thân của BP), đổi lấy 40 triệu thùng dầu cung cấp cho Hải quân trong 20 năm. Từ khoảnh khắc đó đến nay, Trung Đông luôn là chiến trường tài nguyên của phương Tây.

Thế chiến II là bài kiểm tra khắc nghiệt nhất. Đức bước vào chiến tranh năm 1939 với 15 triệu thùng dầu dự trữ – đủ dùng khoảng 2.5 tháng. Lệnh phong tỏa hải quân của Đồng minh lập tức cắt 63% nguồn cung nhập từ Tây Bán Cầu.

Chiến dịch Barbarossa tấn công Liên Xô năm 1941 thực chất là cuộc hành quân hướng về các mỏ dầu Baku và vùng Caucasus. Khi quân Đức không chiếm được các mỏ dầu này, số phận Đệ tam Đế chế coi như đã được định đoạt trên bản đồ địa chất.

Chiến dịch ném bom chiến lược của Đồng minh nhắm vào các nhà máy dầu tổng hợp Leuna và Scholven-Buer từ năm 1944 đã khiến sản lượng nhiên liệu Đức giảm hơn 75% giữa năm 1944, gần bằng không vào năm 1945 – hàng trăm xe tăng nằm im bất động dù còn nguyên vẹn. Tổng tiêu thụ dầu của Đức giảm 86% trong giai đoạn 1940–1945.

Nhật Bản rơi vào vòng xoáy tương tự. Hơn 75% nhiên liệu hàng không của Nhật phải được nhập từ Mỹ. Lệnh cấm vận dầu thô tháng 7/1941 đẩy Tokyo vào quyết định đánh chiếm Đông Ấn Hà Lan để giành 165,000 thùng/ngày. Trong những năm sau đó, tàu ngầm Mỹ đánh chìm phần lớn đội tàu dầu Nhật, khiến tiêu thụ dầu của Nhật giảm 92%.

Tháng 4/1945, siêu thiết giáp hạm Yamato xuất trận trong chiến dịch Ten-Go với lượng dầu chỉ đủ đi một chiều đến đảo Okinawa và trở thành biểu tượng cuối cùng của một đế chế chết vì khát nhiên liệu.

Bài học vật lý này không thay đổi sau năm 1945 mà chỉ được hóa trang lại thành ngôn ngữ tài chính, dưới hình thức một thỏa thuận bí mật trên một chiếc tàu chiến.

Petrodollar – khi dầu mỏ trở thành nền móng của đồng đô la

Tháng 2/1945, trên tàu tuần dương USS Quincy giữa Kênh đào Suez, Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt gặp Quốc vương Abdulaziz của Ả-rập Saudi và thỏa thuận: Mỹ bảo hộ quân sự vương triều Saudi, đổi lấy quyền tiếp cận dầu mỏ ổn định.

Roosevelt thời trẻ bị mắc bệnh bại liệt và phải ngồi xe lăn trong suốt 4 nhiệm kì Tổng thống từ 1933 đến 1945. Khi trông thấy Quốc vương Ả-rập Saudi đi lại khó khăn và đau đớn do những vết thương ở chân từ thời trai trẻ, Tổng thống Roosevelt đã lập tức tặng nhà vua một trong hai chiếc xe lăn của mình cùng với một máy bay DC-3.

Mối quan hệ và thỏa thuận giữa hai nhà lãnh đạo này đã xây nên kiến trúc địa chính trị nền tảng của trật tự thế giới hậu Thế chiến II – và kiến trúc này đã vận hành ổn định gần 30 năm trước khi vết nứt đầu tiên xuất hiện.




Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt gặp Vua Abdulaziz của Ả-rập Saudi trên tàu tuần dương USS Quincy năm 1945. Ảnh: Getty Images.

Tháng 10/1973, Chiến tranh Yom Kippur bùng nổ. Các nước Ả Rập áp lệnh cấm vận dầu mỏ với Mỹ để phản đối việc Mỹ viện trợ vũ khí cho Israel. Giá dầu tăng gần 300% chỉ trong vài tháng – từ 2,90 USD lên 11,65 USD/thùng vào tháng 1/1974. Phương Tây rơi vào đình lạm – lạm phát phi mã kết hợp tăng trưởng đình trệ.

Phản ứng của Washington mang tính kiến tạo hệ thống hơn là ứng phó khủng hoảng. Thỏa thuận năm 1974 với Ả-rập Saudi (và sau đó là toàn bộ OPEC) thiết lập hệ thống Petrodollar: Dầu thô chỉ được định giá bằng USD, thặng dư dầu mỏ được tái đầu tư vào trái phiếu Chính phủ Mỹ. Vòng tuần hoàn này tạo ra nhu cầu USD liên tục và cho phép Washington tài trợ thâm hụt ngân sách khổng lồ mà không cần in tiền – một đặc quyền mà không quốc gia nào khác trên hành tinh có được.

Bước sang năm 2026, ba vết nứt đồng thời đang xói mòn nền móng đó. Ả-rập Saudi bắt đầu nhận Nhân dân tệ thanh toán cho dầu xuất sang Trung Quốc. Nền tảng mBridge – liên minh CBDC của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, UAE, Thái Lan và Hồng Kông – cho phép thanh toán thương mại xuyên biên giới hoàn toàn không qua SWIFT.

Iran áp “thuế quá cảnh bằng đồng Nhân dân tệ” tại eo biển Hormuz, tàu của đồng minh Mỹ bị kiểm tra kéo dài hoặc từ chối thẳng thừng, trong khi tàu có lộ trình giao thương với Trung Quốc được ưu tiên thông hành. Chiếc ô an ninh mà Mỹ cam kết từ năm 1945 bộc lộ giới hạn rõ ràng: Washington không thể bảo đảm dòng chảy tự do vô điều kiện qua Hormuz, buộc các nước vùng Vịnh tự tìm thỏa thuận phòng ngừa rủi ro mới.

Petrodollar chưa sụp đổ. Nhưng nền móng được thiết lập trên tàu tuần dương USS Quincy năm 1945 đang có vết nứt lan dần từ móng lên.

Khoáng sản chiến lược – vũ khí mới nhưng không sánh được với dầu mỏ

Một trường phái địa chính trị đang trỗi dậy với lập luận rằng dầu mỏ đang nhường quyền lực cho khoáng sản chiến lược – lithium, cobalt, nickel – nguyên liệu nền tảng của kỷ nguyên xe điện và năng lượng tái tạo.

Lập luận này có dữ liệu chắc chắn: Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ toàn cầu tăng từ 0.2% năm 1978 lên 8.1% năm 2024. Tỷ trọng dầu mỏ giảm từ đỉnh 42.8% xuống còn 29.7% trong cùng giai đoạn.

Nhưng có một điều mà tỷ trọng không nói: Năng lượng tiêu thụ từ dầu mỏ tăng từ 36.700 TWh năm 1978 lên 55.300 TWh năm 2024 – tức tăng hơn 50% trong cùng giai đoạn mà người ta nói về “sự suy tàn của dầu mỏ”.

Quy luật này không phải ngoại lệ: Năng lượng mới ra đời làm giảm tỷ trọng của năng lượng cũ, nhưng không giảm lượng tiêu thụ tuyệt đối. Năng lượng tiêu thụ từ than toàn cầu năm 2024 đang ở mức đỉnh lịch sử – 45.850 TWh – dù Churchill đã thay thế than bằng dầu mỏ trong tàu chiến của Hải quân Anh từ thời Thế chiến I.

Ngoài vai trò năng lượng, dầu mỏ còn là nguyên liệu đầu vào cho nhựa, phân bón, dược phẩm và hàng ngàn chế phẩm công nghiệp mà năng lượng tái tạo không thể thay thế. Xe điện chạy bằng điện – nhưng vỏ xe, nội thất, lốp xe vẫn phụ thuộc vào các chế phẩm từ dầu mỏ.

Nói về khoáng sản chiến lược, mức độ tập trung nguồn cung còn khắc nghiệt hơn dầu mỏ. Ba quốc gia kiểm soát 70–85% sản lượng lithium, cobalt và nickel toàn cầu – vượt xa mọi liên minh OPEC từng tồn tại. Trung Quốc nắm hơn 60% năng lực chế biến cobalt và trên 90% tinh luyện đất hiếm. Từ cuối năm 2025, Bắc Kinh siết kiểm soát xuất khẩu gallium, germanium, graphite và yêu cầu tổ chức nước ngoài phải xin giấy phép từ Bắc Kinh khi xuất khẩu sản phẩm chứa trên 0.1% đất hiếm từ Trung Quốc.

Song có một ranh giới vật lý cơ bản mà khoáng sản chiến lược không thể vượt qua: chúng là “tài sản cấu thành”, không phải “nhiên liệu tiêu hao”. Lithium và cobalt là nguyên liệu chế tạo pin – thiết bị lưu trữ năng lượng. Cắt nguồn cung lithium như cắt nguồn cung thép xây nhà: Công trình đang xây sẽ chậm lại, nhưng tòa nhà đang đứng không sụp đổ.

Cắt dầu như cắt điện toàn thành phố: mọi thứ dừng lại ngay lập tức. Khi Iran phong tỏa Hormuz, không một chiếc xe tải, không một máy bay chiến đấu, không một tàu chở hàng nào tiếp tục hoạt động bình thường. Khi Trung Quốc hạn chế xuất khẩu đất hiếm, dây chuyền sản xuất động cơ điện mới bị ảnh hưởng – nhưng động cơ đang vận hành không dừng lại.

Dầu mỏ vẫn nắm giữ thứ quyền lực mà không tài nguyên nào khác có được: Quyền lực gây ra sự sụp đổ tức thì. Và chính thứ quyền lực đó đang định hình lại trật tự địa chính trị toàn cầu.

Đức Quyền

FILI

– 19:00 27/05/2026


Các Sàn forex Uy Tín:

Icmarkets

Exness

Source link

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.