[Longform] Ông Nguyễn Thế Minh (ABS): Đỉnh cao của IR là tự chủ động hoàn toàn


TẬP SAN IR AWARDS 2026: QUẢN TRỊ NIỀM TIN – KIẾN TẠO GIÁ TRỊ

Ông Nguyễn Thế Minh (ABS): Đỉnh cao của IR là tự chủ động hoàn toàn
Ông Nguyễn Thế Minh (ABS): Đỉnh cao của IR là tự chủ động hoàn toàn

Ông Nguyễn Thế Minh (ABS): Đỉnh cao của IR là tự chủ động hoàn toàn

━━━━━━━━━━━


Vượt ra khỏi những báo cáo khô khan hay công bố thông tin mang tính đối phó, hoạt động IR thời hiện đại đang nắm lấy sự chủ động hoàn toàn để tư vấn ngược lại cho ban lãnh đạo, trở thành công cụ định vị giá trị doanh nghiệp.

━━━━━━━━━━━

Chia sẻ với chúng tôi, ông Nguyễn Thế Minh – Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư CTCP Chứng khoán An Bình (ABS, HOSE: ABW) đã mang đến góc nhìn về cách các doanh nghiệp kiến tạo giá trị IR (quan hệ nhà đầu tư) mới, tạo dựng niềm tin để biến thành lớp phòng thủ vững chắc trước những cơn bão khủng hoảng truyền thông.

Theo ông, hiện các doanh nghiệp niêm yết đang thay đổi cách làm IR như thế nào để thực sự thuyết phục được nhà đầu tư?

Ông Nguyễn Thế Minh: Hoạt động IR tại Việt Nam bắt đầu bùng nổ mạnh mẽ nhất từ sau năm 2016. Đây là giai đoạn hoạt động IR không chỉ dừng lại ở nhóm cổ phiếu VN30, mà các doanh nghiệp Mid Cap và Small Cap cũng bắt đầu hoạt động rất sôi nổi. Ý thức của họ bắt đầu nâng cao, chịu đầu tư nhiều hơn vào IR.

Tuy nhiên, hoạt động này vẫn mang tính chu kỳ và phụ thuộc nhiều vào bối cảnh thị trường. Như giai đoạn 2016-2018 rất sôi động, sau đó trầm lắng, rồi đến 2020-2021 lại rầm rộ thông qua việc dịch chuyển sang nền tảng trực tuyến. Sau đó, giai đoạn 2022-2024 thì có phần chững lại, và năm 2025 tới nay bắt đầu bứt phá.

Nhìn chung, các doanh nghiệp đã bắt đầu đặt trọng tâm đầu tư nhiều hơn cho IR, bởi họ dần nhận ra vai trò cực kỳ quan trọng của thị trường vốn. Trong bối cảnh room tín dụng thắt chặt, đặc biệt là 6 tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp hiểu rằng họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc cung ứng vốn, thể hiện rất rõ ở nhóm tài chính, bán lẻ hay sản xuất. Hoạt động IR đóng vai trò quyết định đến khả năng huy động vốn thành công của doanh nghiệp.

Thực tế, mô hình IR hiện tại chưa có sự đột phá, nhưng thái cực trở nên rõ ràng hơn. Trước đây, IR thường được giao cho bộ phận chuyên trách hoặc CFO. Nhưng khoảng 2-3 năm trở lại đây, Chủ tịch hoặc CEO đã trực tiếp bước ra đối thoại với nhà đầu tư.

Ý ông là tuy mô hình IR không thay đổi nhiều, nhưng cách tiếp cận thực tế của Doanh nghiệp đã khác?

Đúng vậy. Ngày xưa, ban lãnh đạo có xu hướng “ngại” tiếp xúc với nhà đầu tư vì 2 nguyên nhân.

Thứ nhất là tỷ lệ sở hữu của các ông chủ quá lớn, lên tới 70-80% hoặc hơn, nghĩa là free-float rất thấp. Công ty xem như của họ, tiền cũng là của họ, nên họ không có nhu cầu tiếp xúc để huy động vốn làm gì.

Thứ hai là tâm lý ngại. Mỗi nhà đầu tư có một quan điểm và câu hỏi trái chiều. Lãnh đạo doanh nghiệp khi đó ngại đối thoại vì thiếu tự tin và thiếu thông tin chuẩn bị kỹ lưỡng.

Tuy nhiên, khoảng hai năm trở lại đây, bối cảnh kinh tế khó khăn khiến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp bị hạn chế. Lãi suất dài hạn tăng cao, doanh nghiệp cũng khó tiếp cận nguồn vốn giá rẻ từ ngân hàng. Điều này tạo ra “tính cầu thực” cho doanh nghiệp, và họ sẵn sàng chủ động tiếp cận nhà đầu tư để gia tăng niềm tin. Khi gặp trực tiếp Chủ tịch hay CEO, những người quyết định hiệu quả đầu tư, niềm tin của cổ đông sẽ tăng lên rất nhiều.

Khi gặp trực tiếp Chủ tịch hay CEO, những người quyết định hiệu quả đầu tư, niềm tin của cổ đông sẽ tăng lên rất nhiều.

Ông Nguyễn Thế Minh

Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư ABS

Ông Nguyễn Thế Minh

Đâu là ranh giới giữa một doanh nghiệp đang chủ động tạo giá trị IR mới và một doanh nghiệp chỉ đang làm tròn vai?

Chúng ta có thể chia sự phát triển của hoạt động IR làm 4 cấp độ. Đầu tiên là sơ khai, tức chỉ làm đúng nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định của UBCKNN để không bị vi phạm.

Cấp 2 là ngoài công bố thông tin đúng hạn, doanh nghiệp trả lời câu hỏi cổ đông gửi về, đồng thời xây dựng và quản trị website IR tốt hơn. Hoạt động này thường được giao cho bộ phận IR xử lý.

Cấp độ 3 là kết hợp truyền thông vào IR. Bộ phận IR sẽ định hướng truyền thông đi đúng theo mong muốn và định hướng của ban điều hành, điều hướng nội dung để dòng chảy thông tin được đồng bộ.

Cuối cùng, tôi gọi là cấp Đỉnh cao, là nơi IR có sự chủ động hoàn toàn. Bộ phận IR lúc này phải tư vấn ngược lại cho ban lãnh đạo, chủ động vẽ ra bức tranh chiến lược và kế hoạch IR dài hạn, gắn liền với kế hoạch huy động vốn và định giá của doanh nghiệp.

Sự khác biệt lớn nhất chính là ở tính chủ động. Như TCB trong kỳ ĐHĐCĐ gần đây đã đặt mục tiêu quy mô vốn hóa đạt 20 tỷ USD vào năm 2030. Đây là kết quả của việc bộ phận IR tư vấn ngược lại để ban lãnh đạo đưa ra một bức tranh định giá dài hạn, 3-5 năm, thậm chí 10 năm, nhằm khẳng định giá trị thực của doanh nghiệp, thay vì chỉ lập kế hoạch ngắn hạn 1-2 năm. Công cụ IR được sử dụng rất chủ động chứ không còn bị động như truyền thống.

Việc đối thoại với Chủ tịch hay CEO đúng là hiệu quả, nhưng thực tế đại chúng rất khó tiếp cận với họ. Làm thế nào để bộ phận IR có thể đối thoại với nhà đầu tư ở mức độ tương đương với ban lãnh đạo?

Tôi nghĩ bộ phận IR giống như chiếc “hub” (cổng kết nối) giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư. Chủ tịch hay CEO là người định hướng, họ không thể ngày nào cũng đi gặp nhà đầu tư. Thời gian đâu mà làm việc nữa? Nên 1 năm họ chỉ xuất hiện trực tiếp khoảng 2 lần. Nhiều hơn thì quý qua các buổi Earning Call hoặc sự kiện. Đội ngũ IR sinh ra để thay mặt ban lãnh đạo duy trì kết nối thường xuyên.

Do vậy, bộ phận IR phải có sự chủ động. Họ phải nắm chắc định hướng chiến lược, hiểu sâu sắc ban lãnh đạo muốn gì, định hướng ngắn – trung – dài hạn ra sao, cũng như tình hình hoạt động kinh doanh thực tế. Bởi lẽ, nếu cứ có câu hỏi là phải đợi CEO hay Chủ tịch trả lời thì rất mất thời gian, cũng khó xây dựng niềm tin cho nhà đầu tư.

Vai trò trung gian thông tin cũng cần được chú trọng. Khi nhà đầu tư hỏi sâu về một mảng cụ thể, người làm IR phải chủ động làm việc với các bộ phận chuyên môn để thu thập thông tin và giải đáp nhanh chóng.

Cuối cùng là thay đổi tư duy công bố thông tin. Chẳng hạn như các BCTC, thay vì chỉ đưa số liệu thô hoặc giải trình cơ bản, IR nên đưa ra phân tích chi tiết, giải nghĩa bản chất của sự tăng trưởng để giúp nhà đầu tư thực sự thấu hiểu.

Hiện nay có nhiều doanh nghiệp nền tảng rất tốt, định giá rẻ nhưng giá cổ phiếu lẹt đẹt. Sai lầm của họ ở đâu trong việc thuyết phục dòng tiền trên thị trường?

Về giá cổ phiếu, chúng ta có công thức: Giá = X + Y. Trong đó X là giá trị nội tại cơ bản của doanh nghiệp, còn Y là phần premium (thặng dư) mà thị trường sẵn sàng trả thêm. Sự chênh lệch thặng dư sẽ do hoạt động IR quyết định.

Để thị trường trả mức premium cao hơn định giá thông thường, phải dựa vào 3 yếu tố: kế hoạch kinh doanh cụ thể, lợi thế cạnh tranh vượt trội, và giá trị thương hiệu. Nhiệm vụ của IR là làm nổi bật các giá trị này.

Nghĩa là các trường hợp doanh nghiệp làm ăn tốt mà cổ phiếu thấp là do IR hoạt động chưa tốt không?

Tôi nghĩ phần lớn nguyên nhân là vậy, hoặc thậm chí họ không có IR. Khi khủng hoảng xảy ra, thị trường cần biết khủng hoảng là gì và doanh nghiệp chữa cháy thế nào. Nếu IR làm không tốt thì khủng hoảng sẽ kéo dài.

Trong quá khứ, nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn hoặc vừa đã rơi thẳng xuống Small Cap, cũng chỉ vì thiếu hoạt động IR và đánh mất niềm tin của cổ đông. Ngược lại, các nhóm làm tốt, bộ phận IR làm việc tích cực, và truyền thông giải quyết triệt để, giá cổ phiếu không bị rơi tự do hay bị bán tháo không phanh như các cổ phiếu “lởm” khác.

Tất nhiên, việc cổ phiếu cơ bản tốt mà thị giá thấp còn phụ thuộc vào yếu tố thị trường chung và rủi ro ngành không thuận lợi. Nhưng chung quy, những doanh nghiệp có IR tốt thì dù giảm vẫn ít hơn các cổ phiếu khác cùng ngành, P/B của họ vẫn sẽ giữ ở mức tốt nhất nhóm ngành.

Ông định nghĩa thế nào về “quản trị niềm tin” và vai trò của nó khi có khủng hoảng?

Niềm tin giải quyết được nhiều điều. Khi thị trường lên, giá tăng thì ai cũng tin, thậm chí là khó tin họ cũng vẫn nghe. Nhưng niềm tin chỉ được đo lường chính xác nhất khi thị trường đi xuống, khi giá cổ phiếu và giá trị doanh nghiệp lao dốc do khủng hoảng ngành hoặc rủi ro vĩ mô.

Niềm tin lúc này giống một lá chắn, giúp đo lường số lượng nhà đầu tư trung thành còn lại của doanh nghiệp. Nếu xây dựng được niềm tin vững chắc, nhà đầu tư sẽ giữ cổ phiếu, tránh tình trạng bị bán tháo dây chuyền từ công ty chứng khoán sang ngân hàng.

Bên cạnh đó, quản trị niềm tin còn giải quyết được hai bài toán, gồm huy động vốn và hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Một doanh nghiệp tạo dựng được niềm tin lớn sẽ có tỷ lệ gọi vốn mới cực cao. Và khi cổ đông tin vào doanh nghiệp, họ sẽ tin dùng sản phẩm công ty, tạo ra vòng tuần hoàn thúc đẩy hoạt động kinh doanh.

*Trân trọng cảm ơn ông

Niềm tin giải quyết được nhiều điều. Khi thị trường lên, giá tăng thì ai cũng tin, thậm chí là khó tin họ cũng vẫn nghe. Nhưng niềm tin chỉ được đo lường chính xác nhất khi thị trường đi xuống, khi giá cổ phiếu và giá trị doanh nghiệp lao dốc do khủng hoảng ngành hoặc rủi ro vĩ mô.

Ông Nguyễn Thế Minh

Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư ABS

Biểu đồ thị trường và chuyên gia

Châu An

Thiết kế: TM

FILI


Các Sàn forex Uy Tín:

Icmarkets

Exness

Source link

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.