Chuyện nước giàu, nước nghèo qua những con số GDP, trung bình, trung vị

Chuyện nước giàu, nước nghèo qua những con số GDP, trung bình, trung vị

Những con số GDP bình quân và tài sản trung bình đang đặt Mỹ vượt xa Anh cũng như châu Âu. Nhưng một nền kinh tế lớn hơn chưa chắc trao cho người ở giữa xã hội nhiều tài sản, dịch vụ công hay tuổi thọ hơn. Khi đổi thước đo từ trung bình sang trung vị, câu chuyện nước giàu và nước nghèo đảo chiều.




Ảnh minh họa bởi AI.

Nước Mỹ vô đối qua những dòng tít

Ngày 18/08/2023, tạp chí The Atlantic đăng bài “Mississippi có thật sự nghèo ngang nước Anh?” của Douglas Carswell, cựu nghị sĩ Anh đang lãnh đạo Trung tâm Chính sách công Mississippi. Theo phép tính của Carswell trên số liệu năm 2022, GDP bình quân đầu người của Mississippi đạt 47,200 USD; còn Anh đạt 45,500 USD.

Carswell cho rằng Mississippi – bang nghèo nhất nước Mỹ – tiến lên nhờ nới quy định nghề nghiệp, giảm biên chế công từ 645 người trên 10,000 dân năm 2013 xuống 607 người và hạ thuế thu nhập về một mức 4%. Dòng vốn đầu tư đều hơn, còn các vùng thịnh vượng quanh bờ biển cùng đô thị đại học mở rộng. Theo cách kể của The Atlantic, một bang từng gắn với nghèo đói trở thành bằng chứng cho sức bật của mô hình Mỹ.

“Câu hỏi Mississippi” thực ra xuất hiện từ năm 2014, khi một biên tập viên tạp chí The Spectator, tính rằng Anh nghèo hơn mọi bang Mỹ trừ Mississippi. Đến tháng 8/2023, Financial Times hỏi thẳng liệu Anh có thật sự nghèo ngang Mississippi. Sau điều chỉnh sức mua tương đương (PPP), Financial Times tính ra GDP bình quân năm 2021 của Anh ở 54,590 USD, cao hơn 46,841 USD của Mississippi, nhưng vẫn nhận xét phần lớn nước Anh nếu bỏ London ra có thể nghèo hơn bang này.

Ngày 03/02/2024, The Wall Street Journal đăng bài về cổ phiếu châu Âu bằng đối lập ngắn gọn: kinh tế châu Âu “khựng lại” trong khi Mỹ bùng lên. Tờ báo dẫn tăng trưởng năm 2023 của châu Âu chỉ 0.5%, so với 2.5% của Mỹ, và giá trị 7 tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ khi đó vượt toàn bộ cổ phiếu niêm yết ở Tây Âu.

Số đặc san tháng 7/2026 của The Atlantic tiếp tục đặt tiêu đề “Nước Anh đã trở nên nghèo ngang Mississippi như thế nào”, quy hai thập niên trì trệ cho lựa chọn chính sách của chính nước Anh.

Chuỗi bài trên mô tả đúng một phần chênh lệch về năng suất, tăng trưởng và sức mạnh doanh nghiệp. Tuy nhiên, các dòng tít đã trộn ba câu hỏi: nền kinh tế nào tạo nhiều sản lượng hơn, tổng tài sản nằm ở đâu và người dân điển hình sống ra sao. GDP bình quân có thể trả lời câu đầu, nhưng không tự động trả lời hai câu sau.

Con số trung bình che mất tầng lớp trung lưu

Số trung bình (mean) được tính bằng cách cộng tài sản của toàn bộ người trưởng thành rồi chia cho số người. Một tỷ phú đứng cạnh 999 người gần như trắng tay vẫn có thể kéo mức bình quân lên cao. Số trung vị (median) lại chọn người nằm đúng giữa hàng đã xếp từ nghèo đến giàu, tức là một nửa số người nghèo hơn mức trung vị và một nửa giàu hơn mức trung vị. Vì vậy, số trung vị ít bị ảnh hưởng khi phân phối tài sản có chênh lệch mạnh.

Báo cáo Tài sản Toàn cầu 2026 của ngân hàng UBS cho thấy độ lệch ấy rõ nhất tại Mỹ. Tài sản trung bình của một người trưởng thành Mỹ là 696,277 USD, đứng thứ hai thế giới chỉ sau Thụy Sỹ. Nhưng tài sản trung vị chỉ còn 68,998 USD, đưa Mỹ xuống thứ 28. Một người ở điểm giữa sở hữu chưa tới một phần mười con số trung bình được dùng để mô tả nước Mỹ giàu có.

Cùng thước đo trung vị, Anh đạt 125,335 USD, cao hơn Mỹ 81.6%; Pháp đạt 121,898 USD, cao hơn 76.7%. Bỉ đứng thứ hai thế giới với 277,166 USD, gấp 4 lần Mỹ; còn Luxembourg dẫn đầu với 394,005 USD, gấp 5.7 lần. Dữ liệu cho thấy người nằm giữa xã hội ở nhiều nước châu Âu có bảng cân đối tài sản tốt hơn người ở vị trí tương đương tại Mỹ.

Mỹ vẫn là cỗ máy tạo tài sản lớn. UBS ghi nhận Mỹ bổ sung hơn 440,000 triệu phú USD trong năm 2025, chiếm gần nửa số triệu phú mới của thế giới. Chính sức mạnh ấy cũng làm số bình quân xa số trung vị: lợi ích từ cổ phiếu, doanh nghiệp và tài sản đầu tư tập trung nhiều ở phần trên của phân phối. Khi truyền thông lấy tài sản trung bình làm đại diện cho toàn dân, tài sản ở đỉnh tháp được chia đều trên giấy nhưng không được chia đều trong đời sống.

Đức là một trường hợp đáng chú ý khác. Tài sản trung bình đạt 346,613 USD nhưng trung vị chỉ 53,485 USD, đứng thứ 30 trong bảng UBS. Tỷ lệ sở hữu nhà ở thấp khiến nhiều hộ không ghi nhận bất động sản, còn lương hưu công và dịch vụ công không hiện như tài sản có thể bán. Trung vị hữu ích hơn bình quân, nhưng vẫn cần đọc cùng cấu trúc nhà ở và an sinh.

GDP ghi nhận cả cái giá phải trả

Sự sai lệch tiếp theo nằm trong GDP. Chỉ tiêu này đo giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng, không đo tiền còn lại trong túi hộ gia đình. Một dịch vụ đắt hơn có thể làm GDP tăng dù người mua không nhận thêm chất lượng. Khoảng cách Mỹ – châu Âu vì thế vừa phản ánh năng suất, vừa phản ánh cơ cấu giá và cách hạch toán.

Y tế là ví dụ lớn nhất. OECD ước tính mỗi người Mỹ chi hơn 14,880 USD cho y tế trong năm 2024 theo sức mua tương đương, gấp 2.5 lần mức bình quân gần 6,000 USD của OECD. Khoản chi y tế tương đương 17.2% GDP Mỹ; trong khi mức chung của OECD là 9.3% và Đức, nước đứng kế tiếp, là 12.3%. Mỗi ca điều trị, phí bảo hiểm và chi phí quản lý cao hơn đều được cộng vào sản lượng.

Phép cộng đó đúng về kế toán, nhưng ý nghĩa phúc lợi lại khác. Nếu hai bệnh nhân nhận kết quả tương đương mà người Mỹ trả gấp đôi, phần chênh làm GDP lớn hơn chứ không làm bệnh nhân khỏe hơn. Giá cao vừa là doanh thu y tế, vừa là chi phí bắt buộc của hộ gia đình, doanh nghiệp và ngân sách. GDP không phân biệt 1 USD là lợi ích mới hay chi phí để đạt cùng kết quả.

Nhà ở tạo một lớp hạch toán khác. Cơ quan Phân tích Kinh tế Mỹ (BEA) ước tính dịch vụ nhà ở bằng khoản tiền thuê mà chủ nhà có thể phải trả nếu đi thuê một căn tương tự. “Tiền thuê nhà tự quy đổi” được ghi là sản xuất và tiêu dùng dù không có giao dịch tiền mặt. Quy ước giúp GDP không tụt khi một hộ chuyển từ thuê sang sở hữu, nhưng giá thuê tăng vẫn có thể đẩy GDP lên mà tiền khả dụng không tăng.

Hai cấu phần trên không làm GDP vô nghĩa. Y tế và nhà ở đều có giá trị sử dụng thật. Sai lệch xuất hiện khi GDP bình quân được gọi là mức sống rồi dùng như phán quyết cuối cùng. Nền kinh tế có thể lớn hơn vì năng suất cao, cũng có thể vì người dân trả nhiều hơn cho y tế, nhà ở và bảo hiểm.

Chi nhiều nhưng nhận lại chẳng bao nhiêu

Những thống kê xã hội cho thấy khoản chi tiêu khổng lồ đã mua được, và chưa mua được những gì. Năm 2024, tuổi thọ trung bình của người Mỹ đạt 79, mức cao nhất từng ghi nhận, nhưng vẫn thấp hơn 3.7 năm so với bình quân 82.7 tuổi của 11 nước giàu tương đồng trong so sánh của Peterson-KFF.

Cùng năm, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh tại Mỹ là 5.5 trên 1,000 ca sinh, cao thứ 6 trong 38 thành viên OECD, theo dữ liệu của World Bank. Nhật Bản chỉ có 1.8 ca và Na Uy 2 ca. Nói cách khác, một trẻ sơ sinh tại Mỹ vẫn đối mặt với nguy cơ tử vong trong năm đầu đời cao gấp ba lần so với tại Nhật Bản.

Khả năng tiếp cận dịch vụ cũng không tương xứng quy mô chi tiêu. Khảo sát Phỏng vấn Y tế Quốc gia Mỹ cho thấy 27.5 triệu người, tương đương 8.2% dân số, không có bảo hiểm trong 6 tháng đầu năm 2025. Riêng nhóm 18-64 tuổi, tỷ lệ không bảo hiểm là 11.6%. Một nền kinh tế có chi phí y tế cao nhất trong nhóm các nước giàu vẫn để hàng chục triệu người đứng ngoài cơ chế thanh toán cơ bản.

Bất bình đẳng thu nhập – đo bằng hệ số Gini của thu nhập khả dụng – phát đi cùng một tín hiệu. Eurostat ghi nhận hệ số Gini của EU ở mức 29.4 vào năm 2024; Slovakia chỉ 21.7, Czechia 23.7 và Slovenia 23.8. Trong khi đó, số liệu mới nhất của OECD cho thấy hệ số Gini của Mỹ ở mức 39.4 năm 2023, cao hơn EU tròn 10 điểm. Chỉ số càng cao, độ bất bình đẳng càng lớn.

Vì thế, khoảng cách giữa GDP bình quân đầu người và mức sống của một người dân điển hình không chỉ do thị trường tạo ra, mà còn phụ thuộc vào khả năng tái phân phối của hệ thống thuế và an sinh; các dịch vụ công như y tế, giáo dục còn tác động thêm đến mức sống thực tế, dù không được phản ánh đầy đủ trong hệ số Gini này.

Bảng đối chiếu không trao chiến thắng tuyệt đối cho châu Âu. Mỹ có doanh nghiệp lớn, thị trường vốn sâu, thu nhập cao ở nhiều nghề và sức tạo tài sản ở đỉnh phân phối mạnh. Châu Âu lại đối mặt năng suất chậm, dân số già và gánh nặng tài khóa. Điểm cần sửa là câu hỏi: sức mạnh kinh tế và mức sống điển hình là hai đại lượng liên quan, không phải một.

Một nước giàu cho ai?

Câu chuyện Mississippi có sức hút vì biến một nền kinh tế phức tạp thành bảng xếp hạng dễ nhớ. The Atlantic, Financial Times, The Spectator và The Wall Street Journal đều nắm được một sự thật về động lực tăng trưởng vượt trội của Mỹ. Nhưng từ GDP bình quân cao hơn đến kết luận người Mỹ nói chung giàu hơn là một bước nhảy thống kê. Khoảng cách chênh lệch 10 lần giữa tài sản trung bình và trung vị của Mỹ cho thấy bước nhảy ấy lớn đến mức nào.

Một bộ thước đo hợp lý phải giữ cả hai phía. GDP bình quân cho biết sản lượng kinh tế trên đầu người; tài sản trung vị cho biết người dân điển hình trong nền kinh tế đã tích lũy bao nhiêu; tuổi thọ, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bảo hiểm cho biết nguồn lực chuyển thành kết quả ra sao. Khi các chỉ số tách xa nhau, tên gọi “nước giàu” cần kèm câu trả lời: giàu theo số nào và giàu cho phần nào của xã hội.

Đức Quyền

FILI

– 07:50 18/07/2026


Các Sàn forex Uy Tín:

Icmarkets

Exness

Source link

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.