Cột mốc mới của Việt Nam
Việt Nam chính thức trở thành nước có mức thu nhập trung bình cao
Đi nhanh hơn các nước trong khu vực
Số liệu công bố tháng 7/2026 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) xác nhận, tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của Việt Nam năm 2025 đã đạt 4.970 USD/người, tăng 10,7% so với 2024.
So với ngưỡng của các nước thu nhập trung bình cao theo tiêu chí của World Bank là 4.636 USD, Việt Nam chính thức trở thành nước có mức thu nhập trung bình cao. Kết quả đạt được sau 17 năm (từ năm 2009 đến năm 2026), theo GS.TS. Ngô Thắng Lợi (Đại học Kinh tế Quốc dân), đánh dấu chặng đường vượt khó đầu tiên của Việt Nam hướng tới trở thành quốc gia hùng cường.
Theo vị chuyên gia, chặng đường 17 năm của Việt Nam có dài hơn so với các quốc gia, nền kinh tế có tốc độ bứt phá thần kỳ vào thế kỷ trước như Hàn Quốc (hơn 10 năm từ năm 1968 đến năm 1979); Singapore (13 năm từ năm 1965 đến năm 1978); Đài Loan, Trung Quốc (10 năm từ năm 1968 đến năm 1978), Hong Kong, Trung Quốc (8 năm từ năm 1968 đến năm 1976) hay cả Trung Quốc đại lục (11 năm từ năm 1999 đến năm 2010).
Tuy nhiên, trong ASEAN, tốc độ này tương tự Malaysia (16 năm từ năm 1979 đến năm 1995), nhanh hơn Thái Lan (23 năm từ năm 1988 đến năm 2011). Theo các thống kê, Indonesia và Philippines phải mất khoảng 30 năm. Ở châu Phi và Nam Mỹ, thậm chí, nhiều quốc gia đã nằm ở nhóm thu nhập trung bình thấp suốt 30 – 40 năm và có vẻ đang mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình thấp.
“Hành trình 17 năm của Việt Nam chứng kiến dòng chảy kinh tế thế giới đầy biến động, chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh và các cuộc khủng hoảng chuỗi cung ứng quốc tế. Việc duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục để thăng hạng được World Bank đánh giá là một nỗ lực bền bỉ và hoàn toàn hợp lý”, GS.TS. Ngô Thắng Lợi nhấn mạnh.
Vị chuyên gia nhận định, bốn động lực chính giúp Việt Nam thăng hạng lên mức thu nhập trung bình cao gồm:
(1) Sự bứt phá mạnh mẽ của xuất khẩu và hội nhập sâu rộng: Theo Cục Thống kê, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng bình quân giai đoạn 2021-2025 khoảng 10%/năm, hai năm gần đây tăng hơn 15%. Năm 2025 xuất nhập khẩu Việt Nam cán mốc 920 tỷ USD, gia nhập vào nhóm 15 nền thương mại lớn nhất thế giới. Đồng thời, tỉ lệ xuất nhập khẩu so với GDP đạt 181%, nằm trong nhóm cao nhất thế giới (tỉ lệ thương mại toàn cầu so với GDP thường chỉ chiếm khoảng 50 – 60% trong hai thập kỷ gần đây). Nền kinh tế Việt Nam thể hiện mức độ hội nhập quốc tế sâu rộng và được đánh giá là một trong những nền kinh tế có độ mở cao trên thế giới.
(2) Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có những thành quả lớn cả về số và chất lượng: Về mặt số lượng, có thể thấy tốc độ tăng trưởng FDI hằng năm vào 7% liên tục trong thời gian dài. Tính trong giai đoạn 2021-2025, tốc độ tăng trưởng FDI đạt cao nhất, xấp xỉ 9%/ năm. Đến nay dòng vốn này đóng góp khoảng 20-22% GDP của Việt Nam, chiếm 75% tổng kim ngạch xuất khẩu, 50% giá trị công nghiệp, 25-28% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tạo việc làm cho hơn 5 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp. Về chất lượng, Việt Nam đang thu hút dòng vốn chất lượng cao hơn, thực chất hơn, cũng như ngành công nghiệp công nghệ cao, linh kiện điện tử, bán dẫn từ các tập đoàn lớn toàn cầu.
(3) N hững thành quả bước đầu của chiến lược chuyển đổi số quốc gia và kinh tế số trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.
Năm 2025, tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng của kinh tế số năm 2025 đạt 11,8% (cao hơn mức tăng trưởng GDP của cả nước), đóng góp vào tăng trưởng GDP Việt Nam đạt 11,8%. Kinh tế số phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó các ngành kinh tế số lõi chiếm trên 60% (bao gồm: Kinh tế số ICT/viễn thông, kinh tế số Internet/ nền tảng và kinh tế số ngành), đồng thời mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực ngày càng được mở rộng, đặc biệt là thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng.
(4) Các chính sách ổn định vĩ mô và cải cách thể chế quyết liệt , đặc biệt là chính sách cắt giảm thủ tục hành chính : Các nỗ lực cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia tạo điều kiện thuận lợi, minh bạch hóa dòng chảy dòng vốn.
Lộ trình tiến tới mức thu nhập cao
Thực tế, Đảng, Nhà nước đã đặt ra tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao và đề ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030; đặc biệt là phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo GS.TS. Ngô Thắng Lợi, để đạt mục tiêu thu nhập cao nói trên, Việt Nam cần phải tăng mức GNI (tổng thu nhập quốc gia) bình quân đầu người lên gấp gần 3 lần so với hiện tại (vượt ngưỡng tối thiểu 14.376 USD/năm).
GS.TS. Ngô Thắng Lợi
Về lộ trình tăng trưởng GNI/người, vị chuyên gia đồng ý với quan điểm của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng có thể chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2026 – 2030 ): Giai đoạn tích lũy và chuyển đổi nền tảng. Các nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn này là: Hoàn thiện hạ tầng chiến lược (đặc biệt là đường sắt tốc độ cao và hạ tầng số), nâng cao năng suất lao động, dịch chuyển từ gia công thô sang làm chủ một phần chuỗi cung ứng công nghệ cao (như chip, bán dẫn).
Giai đoạn 2 (2031 – 2040): Giai đoạn tăng tốc bứt phá (gọi là thập kỷ Vàng). Đây là giai đoạn quyết định để vượt qua “bẫy thu nhập trung bình cao”. Động lực chính phải chuyển hẳn sang kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Khu vực doanh nghiệp nội địa phải đủ năng lực cạnh tranh sòng phẳng và xuất khẩu công nghệ ra thế giới.
Giai đoạn 3 (2041 – 2045): Giai đoạn tối ưu hiệu quả và cán đích. Các nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn này gồm: Nâng cao chất lượng sống của người dân, phát triển bền vững, tối ưu hóa chuỗi giá trị và dẫn dắt các xu hướng công nghệ tương lai.
Chuyển đổi mạnh sang mô hình tăng trưởng, phát triển mới
Để hoàn thành các cột mốc này đúng thời hạn, vị chuyên gia hoàn toàn nhất trí với định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước, theo đó Việt Nam cần chuyển đổi mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng và động lực là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhằm tăng hàm lượng chất xám và năng suất trong mỗi sản phẩm tạo ra.
Trong thời gian tới, để đưa nền kinh tế bứt phá chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới với nội dung và yêu cầu như trên, ông cho rằng cần 4 chính sách đột phá.
Thứ nhất, thương mại hóa công nghệ và kích cầu đổi mới sáng tạo, bao gồm : (i) Đưa nghiên cứu ra thị trường, ưu đãi các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, ứng dụng công nghệ; (ii) Mở rộng sàn giao dịch công nghệ, xây dựng các sàn giao dịch công nghệ quốc gia để kết nối trực tiếp nhà khoa học với doanh nghiệp; (iii) Ưu tiên mua sắm công: Nhà nước tiên phong sử dụng, bao tiêu các sản phẩm công nghệ, giải pháp số “Make in Viet Nam” đạt chuẩn.
Thứ hai, định hình nhanh vị thế trong các ngành công nghệ tương lai , bao gồm: (i) Đột phá công nghiệp bán dẫn: Hoàn thiện hệ sinh thái thiết kế, đóng gói, kiểm thử chip tại Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng; (ii) Làm chủ Trí tuệ nhân tạo (AI): Ứng dụng mạnh mẽ AI vào các ngành mũi nhọn như logistics, tài chính, nông nghiệp công nghệ cao để tối ưu năng suất lao động; (iii) Đẩy mạnh chuyển đổi xanh: Gắn chặt chuyển đổi số với chuyển đổi xanh (Chuyển đổi kép) để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe của các nước phát triển hàng đầu.
Thứ ba, nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực số : (i) Tái đào tạo kỹ năng, cụ thể chuyển đổi nhanh lực lượng lao động dệt may, da giày, lắp ráp thủ công sang các kỹ năng vận hành máy móc tự động và công nghệ số; (ii) Đào tạo kỹ sư chuyên sâu, đẩy nhanh chương trình đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn và chuyên gia AI chất lượng cao đến năm 2030; (iii) Thu hút nhân tài, ban hành chính sách đãi ngộ đặc biệt để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ gốc Việt ở nước ngoài về cống hiến.
Thứ tư, khơi thông nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, cụ thể : (i) Kích thích nguồn vốn tư nhân thông qua khuyến khích các tập đoàn lớn thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp; (ii) Đơn giản hóa dòng vốn ngoại trên cơ sở tháo gỡ rào cản hành chính để các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế dễ dàng giải ngân và rút vốn tại Việt Nam”.
Từ góc độ ngành, lĩnh vực, vị chuyên gia đề xuất, Việt Nam nên tập trung nguồn lực tài chính, đất đai và nhân lực vào các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao và khả năng tạo giá trị gia tăng bứt phá: Công nghiệp bán dẫn và linh kiện điện tử chính xác; trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số và dữ liệu lớn; năng lượng tái tạo và kinh tế xanh; nông nghiệp công nghệ cao và chế biến sâu, gia tăng mức độ kinh tế tuần hoàn từ nông nghiệp.
“Quan trọng nhất, cải cách thể chế phải thực sự là đột phá của đột phá. Nếu coi nền kinh tế Việt Nam là một con tàu thì khoa học công nghệ là động cơ nhưng thể chế chính là hệ thống đường ray. Đường ray có thông thoáng, hiện đại thì con tàu mới có thể tăng tốc an toàn hướng tới mục tiêu năm 2045”, GS.TS. Ngô Thắng Lợi kết luận.
Các Sàn forex Uy Tín:
Icmarkets
Exness
IQOption
Deriv
Source link
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.