Tỷ lệ sinh giảm dần trong vùng phủ sóng, tăng trưởng kinh tế phải nhờ vào năng suất
Tỷ lệ sinh giảm dần trong vùng phủ sóng, tăng trưởng kinh tế phải nhờ vào năng suất
Hơn 2/3 nhân loại đang sống tại 131 quốc gia có mức sinh dưới ngưỡng thay thế 2.1 con/phụ nữ. Khi tháp dân số chuyển từ hình kim tự tháp sang hình trụ đứng, gánh nặng tài khóa và sự thu hẹp lực lượng lao động trở thành lực cản hiển hiện, buộc các nền kinh tế dịch chuyển trọng tâm từ khuyến khích sinh đẻ sang bài toán năng suất.

Tháp dân số toàn cầu đảo chiều
Vào tháng 5/2026, một báo cáo khảo sát của Chính phủ Ấn Độ đánh dấu một cột mốc đảo chiều vĩ mô: Tổng tỷ suất sinh (TFR) của quốc gia đông dân nhất thế giới đã chính thức rớt xuống mức 1.9 con/phụ nữ, dưới ngưỡng sinh thay thế 2.1 con/phụ nữ. Tình trạng này ngay lập tức thu hút sự chú ý của giới quan sát toàn cầu, điển hình như bình luận ngày 06/06/2026 của Elon Musk về đà suy giảm tỷ lệ sinh tại nhóm dân số có học thức của Ấn Độ.
Trước đó vào tháng 7/2024, Ban Dân số Liên Hợp Quốc công bố bản sửa đổi dữ liệu nhân khẩu học và kéo thời điểm dân số thế giới đạt đỉnh về gần hơn, rơi vào năm 2084 với quy mô 10.3 tỷ người. Những sự kiện này phát đi một tín hiệu rõ ràng là đà suy giảm nhân khẩu học không còn là rủi ro đặc trưng của các nước phát triển, mà đã trở thành vấn đề chung của toàn cầu.
Thế giới hiện có 131 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận mức sinh dưới ngưỡng thay thế, chiếm tới 68% tổng dân số toàn cầu. Cấu trúc nhân khẩu học đang dịch chuyển từ hình kim tự tháp truyền thống sang dạng hình trụ đứng hay thậm chí là kim tự tháp ngược, tức là tỷ trọng người cao tuổi tăng tương đối so với nhóm trong độ tuổi lao động.

Tại các khu vực thu nhập cao và Trung Quốc, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động sẽ giảm từ 67% hiện nay xuống còn 59% vào năm 2050.
Đà suy giảm thể hiện sự phân cực địa lý sâu sắc ngay trong nội bộ mỗi quốc gia. Tại Ấn Độ, bang Tamil Nadu ở miền Nam ghi nhận TFR 1.3, trong khi bang Bihar ở miền Bắc vẫn duy trì mức 2.9. Việt Nam nằm trong cùng làn sóng, khi tổng tỷ suất sinh năm 2024 rơi xuống mức thấp kỷ lục 1.91 con trên một phụ nữ và chỉ nhích nhẹ lên 1.93 vào năm 2025.
Bức tranh trong nước cũng phân hóa rõ rệt. Cả nước ta hiện có 11 địa phương ghi nhận mức sinh dưới 2.0 con trên một phụ nữ, tập trung tại Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, riêng Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạt 1.51. Thành phố Huế từng có mức sinh 2.98 vào năm 2005 nhưng đã giảm còn 2.06 vào năm 2025, chính thức gia nhập nhóm dưới mức thay thế.
Sự co hẹp của tháp dân số bắt nguồn từ áp lực chi phí, nhưng đằng sau còn là một biến đổi sâu xa hơn trong cơ chế tương tác xã hội của con người.
|
Về mặt toán học cơ bản, một cặp vợ chồng cần sinh 2 người con để thay thế chính mình, nhưng tỷ lệ sinh thay thế chuẩn được ấn định ở mức 2.1 nhằm bù trừ cho hai biến số nhân khẩu học tự nhiên.
Yếu tố đầu tiên là do tỷ lệ giới tính khi sinh luôn mặc định hơi nghiêng về nam giới (khoảng 105 bé trai trên 100 bé gái), nên cần mức sinh nhỉnh hơn 2 để đảm bảo trung bình có đủ một bé gái lớn lên và tiếp tục duy trì chức năng sinh sản.
Lý do thứ hai là phần lẻ 0.1 này đóng vai trò như một biên độ dự phòng rủi ro, bù đắp cho những cá nhân không may qua đời trước khi bước vào độ tuổi sinh đẻ.
|

Thủ phạm nằm trong túi quần
Dữ liệu nhân khẩu học chỉ ra đà giảm sinh sau năm 2007 bắt nguồn chủ yếu từ sự sụt giảm số cặp đôi được hình thành, chứ không phải số con trong mỗi gia đình. Ở những phụ nữ đã kết hôn, số con trên mỗi bà mẹ vẫn duy trì ổn định. Tại Mỹ, tỷ lệ phụ nữ chưa có con trong nhóm 20 đến 24 tuổi tăng từ 75% năm 2014 lên 85% năm 2024, còn nhóm 25 đến 29 tuổi tăng từ 50% lên 63% trong cùng kỳ.
Tổng tỷ suất sinh của Mỹ chạm mức thấp 53.1 trẻ trên 1,000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ vào năm 2025, tương ứng tổng số ca sinh giảm còn 3.6 triệu. Nguyên nhân quen thuộc thường được dẫn ra là chi phí nhà ở và gánh nặng chăm sóc trẻ em. Tuy nhiên, một cơ chế ít được chú ý hơn đang định hình lại hành vi kết đôi ngay từ gốc.
Nghiên cứu của Đại học Cincinnati, công bố năm 2026, dùng độ gồ ghề của địa hình làm biến số để đo tác động nhân quả của hạ tầng mạng di động 4G LTE đối với dân số. Do chi phí dựng trạm phát sóng tại vùng đồi núi cao hơn đồng bằng, việc chậm phủ sóng ở địa hình hiểm trở tạo ra một thí nghiệm tự nhiên giúp loại bỏ nhiễu kinh tế và xã hội. Kết quả cho thấy mức tăng 10 điểm % về độ phủ hạ tầng số kéo tỷ lệ sinh ở nhóm 15 đến 19 tuổi giảm 10 điểm %.
Cơ chế tác động nằm ở cách công nghệ tái phân bổ quỹ thời gian của con người. Thay vì dành thời gian cho việc kết nối sâu thông qua gặp gỡ trực tiếp, vốn là tiền đề để kết đôi, giới trẻ dịch chuyển sang các kết nối rộng rãi nhưng hời hợt trên không gian số. Tại Mỹ, thời gian giao tiếp trực tiếp của thanh niên 15 đến 24 tuổi giảm từ 48 phút mỗi ngày năm 2003 xuống còn 23 phút vào năm 2024 khi ai cũng có smartphone.
Tại Hàn Quốc, quốc gia có mức sinh thấp nhất thế giới với TFR chỉ 0.72, thời gian tương tác trực tiếp của thanh niên giảm 50% trong hai thập kỷ qua. Nhà nhân khẩu học Lyman Stone lý giải rằng việc tìm bạn đời đòi hỏi quá trình gặp gỡ và sàng lọc trực tiếp, nên khi thời gian giao tiếp thực bị thu hẹp, tiến trình kết đôi bị kéo dài hoặc bế tắc.

Quy mô hộ gia đình thu hẹp và tỷ lệ kết đôi thấp định hình lại cấu trúc nguồn nhân lực, đặt các hệ thống tài khóa quốc gia trước áp lực định lượng chưa từng có.
Khoảng trống tài khóa và suy giảm tỷ lệ hỗ trợ
Nguồn cung lao động trẻ thu hẹp kéo theo sự suy giảm của tỷ lệ hỗ trợ, được đo bằng số người trong độ tuổi lao động trên mỗi người từ 65 tuổi trở lên. Trên bình diện toàn cầu, tỷ lệ này đã giảm từ 9.4 vào năm 1997 xuống 6.5 vào năm 2023. Các mô hình dự báo con số sẽ chạm 3.9 vào năm 2050, riêng nhóm Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á chỉ còn 2.0.
Trạng thái này khoét sâu khoảng trống người cao tuổi, tức là mức chênh giữa tiêu dùng và thu nhập từ lao động của nhóm dân số già. Tại Bắc Mỹ, khoảng trống này dự kiến tăng từ 26% tổng thu nhập lao động toàn quốc năm 2023 lên 34% vào năm 2050. Tại Tây Âu, tỷ lệ tương ứng tăng từ 33% lên 46% trong cùng kỳ.
Khoảng trống đó đòi hỏi nguồn tài trợ lớn từ các quỹ hưu trí công và dịch vụ y tế công cộng. Tại Mỹ, trợ cấp An sinh Xã hội chi trả một nửa khoảng trống của người cao tuổi năm 2023, trong khi tại Tây Ban Nha và Pháp, lương hưu công gánh gần 80%. Phần lớn các quỹ vận hành theo cơ chế thực thu thực chi, nên phụ thuộc trực tiếp vào quy mô lực lượng lao động đang đóng thuế.
Chính phủ thu phần lớn thuế từ công dân trong độ tuổi lao động nhưng chi tiêu chủ yếu cho nhóm trẻ nhất và già nhất. Tại Tây Ban Nha, thâm hụt ngân sách bình quân đầu người dự kiến tăng 4.5 lần trong 25 năm tới, từ 1,700 USD lên 7,900 USD, hoàn toàn do thay đổi cơ cấu tuổi. Lực cản này làm giảm tốc độ tăng GDP bình quân đầu người hàng năm tại nhóm già hóa Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á đi 0.4 điểm phần trăm trong giai đoạn đến năm 2050.
Đứng trước lực cản cấu trúc này, các can thiệp tài chính quy mô nhỏ tỏ ra bất lực, buộc nền kinh tế tìm sự bù đắp từ những động lực sản xuất mới.
Thúc đẩy năng suất và khai phóng kinh tế bạc
Các chính sách khuyến khích sinh đẻ bằng tiền mặt hay ưu đãi thuế chỉ tạo tác động khiêm tốn và ngắn hạn. Những khoản hỗ trợ này khuyến khích sinh con sớm hơn nhưng thiếu lực đẩy để nâng tổng số ca sinh, vì không bù đắp được toàn bộ gánh nặng nuôi dạy con cái kéo dài. Vì vậy, các nền kinh tế buộc chuyển mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô lao động sang mô hình dựa trên năng suất.
Trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trở thành phương thức chủ chốt để bù đắp thiếu hụt nhân lực cơ học. Viện Toàn cầu McKinsey tính toán việc tự động hóa các công việc lặp lại có thể nâng tăng trưởng năng suất lao động toàn cầu thêm 2% mỗi năm trong thập kỷ tới. Áp lực nhân khẩu học cũng buộc thiết kế lại tuổi nghỉ hưu, và Trung Quốc đã nâng tuổi hưu lên 63 đối với nam, 58 đối với nữ kể từ năm 2025.
Việt Nam thông qua Luật Dân số năm 2025 để chuyển từ kiểm soát sinh sang chiến lược kết hợp dân số và phát triển. Luật quy định chế độ thai sản lên tới 7 tháng cho lao động nữ sinh con thứ hai. Bộ Y tế đề xuất phân bổ 1,800 tỷ đồng mỗi năm hỗ trợ tài chính trực tiếp cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi tại các vùng có mức sinh thấp.
Nhóm dân số già sẽ định hình lại cấu trúc tiêu dùng toàn cầu. Theo Viện Toàn cầu McKinsey (MGI), đến năm 2050, người từ 65 tuổi trở lên chiếm 25% tổng chi tiêu tiêu dùng thế giới, riêng các nước thu nhập cao châu Á tăng tỷ trọng tiêu dùng của nhóm này từ 26% lên 39%. Chỉ riêng tại Mỹ, chi tiêu chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người có thể tăng thêm 380 tỷ USD vào năm 2050 do thay đổi cơ cấu tuổi.
Sự thay hình đổi dạng của tháp dân số khép lại kỷ nguyên tăng trưởng dựa vào số đông. Quốc gia nào sớm coi sự khan hiếm lao động là động lực bắt buộc nâng năng suất, thay vì chỉ là gánh nặng cần trợ cấp, sẽ là quốc gia định đoạt được nhịp tăng trưởng của nửa sau thế kỷ 21.
Đức Quyền
FILI
– 13:00 27/06/2026
Các Sàn forex Uy Tín:
Icmarkets
Exness
Source link
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.