4 nghịch lý kinh tế của chiến tranh Mỹ – Iran
4 nghịch lý kinh tế của chiến tranh Mỹ – Iran
Xung đột quân sự giữa Mỹ, Israel và Iran vào đầu năm 2026 cho thấy trong một cuộc chiến của thế kỷ 21, sức mạnh vũ trang dù lớn đến đâu cũng chịu sự chi phối chặt chẽ của các yếu tố kinh tế và tài chính. Chính những sự ràng buộc này đã tạo ra 4 nghịch lý trong cách hành xử của những bên tham chiến.
Chiến tranh không tổng lực vì toan tính kinh tế
Đảo Kharg là “trái tim” kinh tế của Cộng hòa Hồi giáo Iran, nơi tập trung các trạm trung chuyển xử lý tới 90% lượng dầu thô xuất khẩu của quốc gia này. Đầu tháng 3/2026, quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch không kích quy mô lớn nhằm vào hòn đảo chiến lược này.
Theo logic quân sự truyền thống, các bên tham chiến luôn phải tìm cách đánh vào những mục tiêu quan trọng nhất, có ý nghĩa quan trọng nhất của đối phương. Quả thực, Mỹ và Israel đã nhiều lần tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran, đồng thời gây ảnh hưởng tới hàng chục lãnh đạo cấp cao của Tehran, bao gồm Lãnh tụ tối cao Iran Ayatollah Ali Khamenei.
Việc san phẳng các bồn chứa và trạm bơm dầu tại Kharg sẽ lập tức bóp nghẹt nguồn thu ngoại tệ, cắt đứt dòng máu nuôi dưỡng bộ máy chiến tranh của Tehran và buộc chính quyền Iran phải nhanh chóng nhượng bộ.

Trong thực tế, quân đội Mỹ ném bom tàn phá toàn bộ cơ sở phòng không và radar trên đảo, nhưng lại cẩn trọng tuyệt đối né tránh các cơ sở hạ tầng dầu mỏ. Siêu cường quân sự thế giới sở hữu hỏa lực đủ sức biến hòn đảo thành tro bụi lại đang phải cẩn thận bảo vệ “chén cơm” kinh tế của kẻ thù.
Nước Mỹ nương tay với Đảo Kharg của Iran không phải vì lòng trắc ẩn, mà vì những toan tính liên quan tới tình hình lạm phát nội địa
Bất kỳ đòn đánh nào làm đứt gãy nguồn cung dầu của Iran sẽ lập tức tạo ra cú sốc hoảng loạn trên thị trường năng lượng, đẩy giá dầu Brent vọt lên ngưỡng 150 – 200 USD/thùng. Hệ quả sẽ là hiệu ứng “Trumpflation” (Lạm phát kỷ nguyên Trump).
Chỉ với những gián đoạn ban đầu tại eo biển Hormuz, giá xăng bán lẻ tại Mỹ đã tăng vọt 32%, kéo theo tỷ lệ ủng hộ các chính sách kinh tế của đảng cầm quyền rớt xuống mức đáy 32%.
Vậy nên Mỹ không những không phá hủy hạ tầng dầu khí của Iran, mà thậm chí còn tạm thời gỡ bỏ lệnh cấm vận với dầu Iran. Số dầu này không đi tới Mỹ mà tới các đối tác nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc… Nhưng trong một thị trường liên thông toàn cầu như dầu mỏ, nguồn cung từ Iran vẫn giúp hạ nhiệt giá năng lượng tại Mỹ. Nếu nguồn cung từ Iran bị chặn đứng hoàn toàn, Trung Quốc, Ấn Độ sẽ phải tranh mua dầu từ các nguồn khác, đẩy giá dầu toàn cầu lên mức cao không tưởng.
Giới hoạch định chính sách tại Washington nhận ra một sự thật: Việc xóa sổ hạ tầng dầu mỏ Iran có thể mang lại thắng lợi chiến thuật, nhưng cái giá phải trả là tình trạng lạm phát đình trệ (stagflation) sẽ tàn phá nền kinh tế Mỹ và đánh sập sinh mệnh chính trị của chính quyền đương nhiệm.

Sự bất lực của siêu hạm đội hùng mạnh
Việc Mỹ quyết định bảo toàn hạ tầng dầu mỏ tại Đảo Kharg đã giúp Iran giữ được công cụ kinh tế để phản đòn. Thay vì phòng ngự thụ động, Iran chuyển trọng tâm sang việc kiểm soát đường đi của chính lượng dầu đó, dẫn đến nghịch lý tại eo biển Hormuz – tuyến đường biển vận chuyển 20% lượng dầu toàn cầu mỗi ngày.
Hải quân Mỹ được triển khai hùng hậu đến Vùng Vịnh nhằm đảm bảo tự do hàng hải. Cùng lúc đó, lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) sử dụng chiến thuật chiến tranh bất đối xứng, triển khai các tàu cao tốc cải tiến để rải thủy lôi ở khu vực Hormuz và tấn công các tàu thương mại.
Với ngân sách quốc phòng vượt 800 tỷ USD và các biên đội tàu sân bay khổng lồ, hải quân Mỹ dư sức nghiền nát lực lượng hàng hải mỏng manh của Iran và nhanh chóng khơi thông tuyến đường biển huyết mạch một cách độc lập.
Thế nhưng thực tế là một siêu cường với phương châm đối ngoại “Nước Mỹ trên hết” (America First), luôn đề cao hành động đơn phương, lại rơi vào tình thế bế tắc chiến thuật và phải khẩn khoản kêu gọi các đồng minh từ châu Âu đến châu Á cử tàu rà phá thủy lôi đến ứng cứu.
Lý do nằm ở kim tự tháp chi phí quân sự bị đảo ngược. Cỗ máy chiến tranh của Mỹ được thiết kế cho các cuộc đối đầu quy mô lớn thời Chiến tranh Lạnh, tập trung vào sức mạnh không quân và nhóm tác chiến tàu sân bay đắt đỏ. Trong khi đó, năng lực rà phá mìn ven bờ lại bị bỏ ngỏ khi đội tàu lớp Avenger đã quá lỗi thời và các tàu tác chiến ven bờ (LCS) liên tục gặp trục trặc kỹ thuật.
Ngược lại, Iran áp dụng chiến tranh du kích trên biển với chi phí thấp. Một quả thủy lôi giá vài ngàn USD, được thả từ một chiếc xuồng cao tốc, đủ sức phong tỏa cả một tuyến hàng hải và uy hiếp những siêu tàu sân bay trị giá hàng chục tỷ USD. Sự thiếu hụt năng lực tác chiến bất đối xứng buộc Washington phải nương tựa vào năng lực quét mìn chuyên biệt của các quốc gia đồng minh, từ đó phơi bày hạn chế của một quân đội được thiết kế để phô diễn sức mạnh hơn là giải quyết các điểm nghẽn chiến thuật vi mô.

Chiến tranh làm lợi cho đối thủ
Việc eo biển Hormuz bị phong tỏa không chỉ làm khó lực lượng hải quân mà còn làm chậm dòng chảy thương mại quốc tế. Sự gián đoạn nguồn cung vật lý này lập tức phản ánh lên giá cả trên thị trường hàng hóa, tạo ra một môi trường tài chính mới có lợi cho các bên thứ ba không thân thiện với Mỹ.
Theo kỳ vọng thông thường, một chiến dịch quân sự quyết liệt sẽ khẳng định vị thế bá quyền vô đối của Washington, làm suy yếu các đối thủ địa chính trị và củng cố an ninh chuỗi cung ứng năng lượng cho phương Tây.
Thực tế là chỉ trong 6 ngày đầu tiên, chiến dịch đã tiêu tốn 11.3 tỷ USD ngân sách do người nộp thuế Mỹ đóng góp. Trong khi Mỹ đổ máu và tiền bạc vào chiến trường, những đối thủ chiến lược lớn nhất của Washington lại hưởng lợi mà không cần tốn một viên đạn.
Nga, với tư cách là nhà xuất khẩu năng lượng lớn nằm ngoài vùng xung đột, đã kiếm bộn tiền khi giá dầu thô tăng cao lên tới 100 – 120 USD/thùng, từ đó bổ sung vào ngân sách đang eo hẹp sau 4 năm giao tranh ở Ukraine.
Trong khi đó, Trung Quốc đã bình thản gom hàng chục triệu thùng dầu chiết khấu của Iran từ trước khi chiến tranh nổ ra, nâng dự trữ chiến lược lên 1.2 tỷ thùng dầu. Thông qua các đội tàu bóng đêm, Bắc Kinh tiếp tục nhập khẩu dầu Iran với mức giá rẻ mạt, đảm bảo năng lượng cho ngành công nghiệp trong nước. Nước Mỹ bước vào cuộc chiến để kìm hãm đối thủ, nhưng cơ chế thị trường lại biến cuộc chiến đó thành một gói kích thích kinh tế khổng lồ cho chính Nga và Trung Quốc.

Hệ thống Petrodollar và cú phản công tiền tệ
Việc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại chính, tiêu thụ hầu hết dầu mỏ của Iran trong thời kỳ chiến tranh, đã tạo cơ sở để Iran thực hiện một đòn đánh chiến lược hơn vào nền tảng tiền tệ của Mỹ.
Trong nhiều năm qua, Washington sử dụng sự thống trị của đồng USD làm yếu tố để cô lập một số nước, trong đó có Venezuela, Iran khỏi hệ thống thanh toán liên ngân hàng toàn cầu.
Theo suy luận thông thường, các lệnh cấm vận tài chính khắc nghiệt, kết hợp với sức ép quân sự, sẽ làm suy kiệt nền kinh tế Iran, kích hoạt siêu lạm phát nội địa và dẫn đến sự sụp đổ của chế độ từ bên trong.
Trên thực tế, lệnh trừng phạt không lật đổ được chế độ ở Iran, mà lại trở thành chất xúc tác đẩy nhanh sự suy yếu của hệ thống Petrodollar.
Đáp lại các đợt cấm vận và không kích, Tehran tuyên bố phong tỏa một phần eo biển Hormuz, rồi tung đòn bằng cách chỉ cho phép các tàu chở dầu giao dịch bằng đồng nhân dân tệ của Trung Quốc đi qua eo biển Hormuz.
Sức mạnh của Mỹ được xây dựng trên năng lực phát hành nợ vô hạn, được bảo chứng bởi nhu cầu bắt buộc phải dự trữ USD của toàn cầu để mua dầu mỏ. Bằng việc tước đoạt quyền tiếp cận USD của Iran, Mỹ vô tình ép quốc gia này và các đối tác thương mại lớn phải hoàn thiện hạ tầng thanh toán độc lập (như hệ thống CIPS của Trung Quốc).
Hiện tại, đồng USD chỉ còn chiếm 56% dự trữ toàn cầu, sụt giảm đáng kể so với mức 73% của 20 năm trước. Động thái ép buộc thanh toán bằng Nhân dân tệ đối với dòng chảy năng lượng tại Vùng Vịnh đã trực tiếp chuyển hướng nhu cầu với hàng chục tỷ USD ra khỏi hệ thống tài chính Mỹ.
Khi các quốc gia không còn cần USD để mua năng lượng, lực cầu đối với Trái phiếu Kho bạc Mỹ sẽ giảm, đẩy chi phí đi vay của chính phủ Mỹ tăng lên và làm rạn nứt nền tảng tài trợ cho khoản nợ công 39,000 tỷ USD.
Nhìn chung, diễn biến của cuộc xung đột Mỹ – Iran năm 2026 cho thấy sức mạnh quân sự luôn gắn liền và chịu giới hạn bởi các quy luật kinh tế vĩ mô. Các quyết định trên chiến trường không chỉ mang lại kết quả về mặt kiểm soát lãnh thổ hay phá hủy khí tài, mà còn định hình lại các dòng chảy thương mại và cấu trúc tiền tệ toàn cầu.
Trong một hệ thống kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, khả năng duy trì chuỗi cung ứng và sự ổn định của hệ thống tài chính đôi khi đóng vai trò quyết định không kém gì ưu thế về mặt vũ trang.
Đức Quyền
FILI
– 09:37 25/03/2026
Các Sàn forex Uy Tín:
Icmarkets
Exness
Source link
Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.